Gửi tin qua Email
In bài này
Chức năng, nhiệm vụ, quá trình hình thành Viện

(2010/05/13 20:46:13.314 GMT+7)

CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH  CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU THƯƠNG MẠI

 

1. Chức năng
Viện Nghiên cứu thương mại có chức năng nghiên cứu những vấn đề khoa học thương mại như chiến lược và quy hoạch phát triển thương mại, chính sách và cơ chế phát triển thương mại, nghiên cứu tình hình thị trường trong nước và quốc tế, dự báo xu hướng phát triển của thị trường hàng hoá và dịch vụ thế giới cũng như của Việt Nam, nghiên cứu các vấn đề về thương mại liên quan đến môi trường, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam… tổ chức đào tạo trên đại học, đào tạo và bồi dưỡng về nghiệp vụ, nâng cao trình độ và cung cấp các dịch vụ tư vấn, thông tin thương mại.

2. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu các luận cứ khoa học phục vụ xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển thương mại và thị trường;
- Nghiên cứu đổi mới và hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý thương mại;
- Nghiên cứu kinh tế và thương mại thế giới, các tổ chức kinh tế và thương mại quốc tế và các vấn đề liện quan đến hoạt động thương mại của Việt Nam;
- Nghiên cứu và dự báo về thị trường hàng hoá, thị trường dịch vụ trong nước và quốc tế;
- Nghiên cứu về hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam;
- Nghiên cứu những vấn đề về thương mại liên quan đến môi trường của Việt Nam;
- Tổ chức đào tạo trên đại học chuyên ngành kinh tế thương mại;
- Tổ chức đào tạo và bồi dưỡng về nghiệp vụ, nâng cao trình độ chuyên môn, công nghệ thông tin và ngoại ngữ cho cán bộ thương mại;
- Cung cấp các dịch vụ tư vấn chất lượng cao cho các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân cả trong và ngoài nước về những lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu của Viện;
- Hợp tác nghiên cứu, đào tạo và trao đổi thông tin khoa học thương mại với các tổ chức nghiên cứu, các trường đại học, các nhà khoa học trong và ngoài nước… 

3. Quá trình hình thành

Viện Nghiên cứu Thương mại là đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học trực thuộc Bộ Công Thương, nằm trong hệ thống các Viện khoa học quốc gia và hệ thống các cơ sở đào tạo Sau đại học của Nhà nước.
Viện Nghiên cứu Thương mại ngày nay có tiền thân là Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương nghiệp (1971 - 1992), Viện Kinh tế đối ngoại (1982 - 1995), Viện Khoa học kỹ thuật và kinh tế vật tư (1982 - 1992) và Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương mại (1992 - 1995). Để hợp lý hóa tổ chức bộ máy của Bộ Thương mại, ngày 08 tháng 11 năm 1995, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 721/TTg về sửa đổi một số tổ chức trực thuộc Bộ Thương mại, trong đó đã quyết định hợp nhất Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương mại và Viện Kinh tế đối ngoại thành Viện Nghiên cứu Thương mại. Trên cơ đó, ngày 27 tháng 01 năm 1996, Bộ trưởng Bộ Thương mại đã ký Quyết định số 71/TM-TCCB về quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Viện Nghiên cứu Thương mại. Theo Quyết định này, Viện Nghiên cứu Thương mại là đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học trực thuộc Bộ Thương mại.
Với tiềm lực, vị thế là một trong 43 Viện khoa học quốc gia đầu tiên của Nhà nước, ngày 10 tháng 12 năm 1996, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 915/TTg về việc giao nhiệm vụ đào tạo trên đại học cho Viện Nghiên cứu Thương mại. Từ đây, Viện không chỉ là một Viện nghiên cứu khoa học cấp quốc gia mà còn là một trong số trên 100 cơ sở đào tạo Sau đại học của Nhà nước. Từ tháng 7 năm 2007, sau khi hợp nhất Bộ Công nghiệp và Bộ Thương mại thành Bộ Công Thương, Viện Nghiên cứu Thương mại là đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học trực thuộc Bộ Công Thương.
Trải qua 40 năm xây dựng và phát triển, Viện Nghiên cứu Thương mại hiện nay đã trở thành một trung tâm phát triển khoa học lớn, có uy tín với xã hội và quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học thương mại và đào tạo tiến sĩ kinh tế chuyên ngành thương mại. Hiện tại, Viện có gần 100 cán bộ, giáo viên và trên 30 nghiên cứu sinh đang học tập nghiên cứu tại Viện. Hàng trăm đề tài/dự án nghiên cứu khoa học cấp nhà nước và cấp Bộ đã được Viện chủ trì thực hiện thành công, có chất lượng cao, trên 20 nghiên cứu sinh của Viện đã được cấp bằng tiến sĩ, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát triển thương mại và đào tạo nguồn nhân lực thương mại trình độ cao của nước nhà.
Tháng 6 năm 2011 này, đúng vào năm Viện kỷ niệm lần thứ 40 ngày thành lập, Viện Nghiên cứu Thương mại vinh dự đón nhận Huân chương Lao động Hạng nhì do Nhà nước trao tặng. Để ghi nhận lại các bước xây dựng và phát triển của Viện qua từng thời kỳ, cần khái quát về những chặng đường lịch sử 40 năm Viện Nghiên cứu Thương mại.
I. VIỆN KINH TẾ - KỸ THUẬT THƯƠNG NGHIỆP (1971-1992)
1. Bối cảnh thành lập và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Viện
Bước vào những năm 1970, khi cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước bước vào giai đoạn quyết liệt nhất, nhiệm vụ của ngành Nội thương càng trở nên nặng nề. Để đáp ứng yêu cầu thực hiện hai nhiệm vụ trọng tâm của Ngành là phục vụ tốt đời sống nhân dân, thúc đẩy sản xuất phát triển, đồng thời bảo đảm nhu yếu phẩm phục vụ chiến đấu giải phóng miền Nam, chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của Mỹ, việc phát triển khoa học thương nghiệp có vai trò, ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của Ngành. Trong bối cảnh đó và để hợp lý hóa tổ chức bộ máy của ngành Nội thương, ngày 17 tháng 6 năm 1971, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 121/CP về sửa đổi tổ chức bộ máy của Bộ Nội thương , trong đó, Hội đồng Chính phủ đã quyết định thành lập Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương nghiệp. Sự kiện này đã đánh dấu mốc thời gian ra đời và khởi đầu quá trình xây dựng, phát triển của Viện Nghiên cứu Thương mại ngày nay.
Theo Quyết định số 121/CP ngày 17/6/1971 của Hội đồng Chính phủ, Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương nghiệp có nhiệm vụ :
a) Nghiên cứu, tổng kết công tác thương nghiệp ở nước ta, từng bước xây dựng lý luận công tác của ngành;
b) Nghiên cứu những chuyên đề về xây dựng và phát triển kinh tế thương nghiệp;
c) Nghiên cứu và lập quy hoạch xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật và sự tiến bộ kỹ thuật của ngành Nội thương;
d) Nghiên cứu và hướng dẫn xây dựng các định mức kinh tế, kỹ thuật; chỉ đạo và quản lý công tác khoa học, kỹ thuật của ngành Nội thương;
e) Tổ chức công tác thông tin và phổ biến khoa học, kỹ thuật trong ngành Nội thương.
Thi hành Quyết định số 121/CP của Hội đồng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nội thương đã ký Quyết định số 58/NT/QĐ ngày 11/10/1971 về quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương nghiệp. Theo Quyết định này, Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương nghiệp là cơ quan nghiên cứu khoa học và kỹ thuật thương nghiệp của Bộ Nội thương, có nhiệm vụ cụ thể chủ yếu là:
a) Giúp Bộ nghiên cứu tổng kết về lịch sử phát triển thương nghiệp ở nước ta, từng bước xây dựng lý luận công tác thương nghiệp;
b) Giúp Bộ nghiên cứu những chuyên đề về kinh tế và tổ chức thương nghiệp (đường lối phát triển thương nghiệp; nguyên tắc tổ chức và quản lý kinh tế nội thương; phương pháp kế hoạch hóa thương nghiệp; tổ chức nghiên cứu nhu cầu tiêu dùng và khuynh hướng thị trường; cải tiến phương pháp và hình thức kinh doanh thương nghiệp thích hợp với điều kiện kinh tế của nước ta…) nhằm phục vụ tốt cho sản xuất, chiến đấu và đời sống nhân dân.
c) Giúp Bộ nghiên cứu vấn đề xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của ngành (lập quy hoạch từng bước tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật thương nghiệp, kế hoạch tiến bộ kỹ thuật, phương hướng và biện pháp đẩy nhanh tốc độ xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của ngành; ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào việc xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của ngành …).
d) Giúp Bộ nghiên cứu xây dựng các tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật, các quy trình, quy phạm của ngành Nội thương với sự tham gia của các Vụ, Cục, Tổng Công ty có liên quan;
e) Tổ chức công tác thông tin và phổ biến khoa học kỹ thuật của ngành;
f) Quản lý các cơ sở nghiên cứu khoa học, kỹ thuật và các loại kinh phí dùng cho việc nghiên cứu khoa học kỹ thuật được Bộ giao cho.
Về quyền hạn, Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương nghiệp hoạt động trên cơ sở kế hoạch chuyên đề và dự trù kinh phí đã được Bộ duyệt. Mặt khác, Viện có thể ký kết hợp đồng với các đơn vị cơ sở trong ngành để nghiên cứu những đề tài theo yêu cầu của cơ sở đó. Khi tiến hành việc nghiên cứu thực nghiệm, ngoài việc sử dụng các phương tiện của ngành, Viện được quyền yêu cầu cho sử dụng các cơ sở nghiên cứu thí nghiệm hiện có của các đơn vị khác trong ngành để phục vụ cho công tác nghiên cứu của Viện. Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương nghiệp được sử dụng con dấu riêng theo thể thức quy định của nhà nước.
Tổ chức bộ máy của Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương nghiệp gồm có:
1. Tổ kinh tế và tổ chức chức thương nghiệp và ăn uống phục vụ;
2. Tổ kỹ thuật thương nghiệp và ăn uống phục vụ;
3. Tổ tư liệu (thư viện, biên dịch, sưu tầm và phổ biến tài liệu trong và ngoài nước…);
4. Phòng thí nghiệm;
5. Bộ phận hành chính quản trị.
Sau khi thành lập, Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương nghiệp được Bộ Nội thương giao tòa nhà 17 - Yết Kiêu - Hà Nội làm trụ sở.
Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương nghiệp đã hoạt động đến năm 1992, khi Bộ trưởng Bộ Thương mại ra Quyết định số 156/TM-TCCB ngày 2/3/1992 về thành lập Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương mại trên cơ sở hợp nhất Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương nghiệp và Viện Khoa học kỹ thuật và kinh tế vật tư.
2. Tổ chức quản lý hoạt động của Viện và những thành quả chủ yếu
Trong 22 năm xây dựng và phát triển (1971-1992), dưới sự quản lý điều hành của nhiều thế hệ lãnh đạo, Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương nghiệp đã không ngừng lớn mạnh, đạt được những thành quả ngày càng lớn. Một số đồng chí Viện trưởng đã trưởng thành từ Viện và được đề bạt chức vụ Thứ trưởng. Cụ thể và thứ tự là:
 Đồng chí Trần Tấn, Viện trưởng đầu tiên từ khi thành lập Viện (1971), sau đó được đề bạt làm Thứ trưởng Bộ Nội thương.
 Đồng chí Nguyễn Đức Tiến, Viện trưởng từ năm 1975 đến năm 1976.
 Đồng chí Lê Hữu Duyên, Viện trưởng trong giai đoạn 1971-1976, sau đó được đề bạt làm Thứ trưởng Bộ Nội thương.
 PGS.TS. Nguyễn Quang Quýnh, Viện trưởng trong giai đoạn 1981-1985, sau đó đề bạt làm Thứ trưởng Bộ Nội thương.
 GS.TS. Hoàng Đạt, Viện trưởng Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương nghiệp từ năm 1985 đến năm 1992, sau khi hợp nhất Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương nghiệp và Viện Khoa học kỹ thuật và kinh tế vật tư thành Viện Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại (1992), GS.TS. Hoàng Đạt tiếp tục làm Viện trưởng đến năm 1995.
Trong giai đoạn 1971 - 1985, tập trung xây dựng Viện thành một Viện chuyên ngành về kinh tế - kỹ thuật thương nghiệp, củng cố cơ cấu, trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học, phong cách và phương pháp nghiên cứu khoa học. Hoạt động nghiên cứu của Viện trong giai đoạn này chủ yếu gắn liền với nhiệm vụ chính trị cụ thể từng năm hoặc 5 năm của ngành. Hướng nghiên cứu chính là tập trung vào giải quyết các vấn đề về thương nghiệp nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển, chính sách phân phối hàng hoá, tổ chức thương nghiệp và phân cấp quản lý, tổng kết hoạt động thương nghiệp. Hoạt động thông tin của Viện bao gồm cả phát hành một số ấn phẩm thông tin và Tạp chí Nội thương (lúc đó Bộ giao cho Viện quản lý Tạp chí Nội thương, Viện trưởng kiêm Tổng biên tập).
Trong giai đoạn 1986 - 1992, hoạt động nghiên cứu của Viện đã vươn ra cả chiều rộng và chiều sâu, gắn với tiến trình Đổi mới. Trong đó, Viện đã tham gia nghiên cứu những vấn đề chung của đất nước như lý luận và thực tiễn về thương nghiệp trong thời kỳ quá độ, về thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, về đổi mới cơ chế quản lý và chính sách kinh tế, đồng thời đi sâu nghiên cứu những vấn đề đổi mới quản lý ngành thương nghiệp, tổ chức lưu thông hàng hoá và tổ chức thị trường, cơ chế quản lý ngành và quản lý trong từng đơn vị cơ sở thương nghiệp…Viện cũng thường xuyên bám sát các công ty, các Sở Thương nghiệp thực hiện việc nghiên cứu theo đơn hàng của họ. Các nghiên cứu của Viện đã góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn các chủ trương, đường lối kinh tế của Đảng ở giai đoạn đầu của thời kỳ Đổi mới, đóng góp tích cực vào việc chuẩn bị văn kiện các Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, lần thứ VI và lần thứ VII cũng như các chủ trương, chính sách của ngành thương nghiệp. Mặt khác, các đề án, dự án quy hoạch cơ sở vật chất kỹ thuật ngành thương nghiệp và đổi mới thương nghiệp quốc doanh do Viện chủ trì thực hiện, đã góp phần quan trọng vào việc phát triển mạng lưới thương nghiệp trên địa bàn cả nước.
II. VIỆN KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG (1982-1988) - VIỆN KINH TẾ ĐỐI NGOẠI (1988-1995)
1. Bối cảnh và đặc điểm hình thành, xây dựng Viện
Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ V của Đảng Cộng sản Việt Nam (3/1982) về phương hướng phát triển kinh tế trong nước và mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài, để đáp ứng và giải quyết tốt cả nhiệm vụ định ra của ngành, ngày 24 tháng 7 năm 1982 Bộ trưởng Bộ Ngoại thương đã ký quyết định số 696 BNgt/TCCB về qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức Viện Kinh tế ngoại thương.
Bộ Ngoại thương sau 20 năm hoạt động (từ tháng 3 năm 1958), đến ngày 24 tháng 3 năm 1988 Hội đồng Bộ trưởng đã Quyết định thành lập Bộ Kinh tế đối ngoại trên cơ sở Bộ Ngoại thương và Uỷ ban Kinh tế đối ngoại. Trên cơ sở đó, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ký Nghị định số 97/HĐBT ngày 15 tháng 5 năm 1988 qui định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy Bộ Kinh tế đối ngoại. Theo đó, để hợp lý hoá tổ chức bộ máy của Bộ Kinh tế đối ngoại theo nhiệm vụ, quyền hạn được giao, Viện Kinh tế ngoại thương đã được đổi tên thành Viện Kinh tế đối ngoại.
Từ những năm đầu thành lập và trong toàn bộ quá trình xây dựng, phát triển, Viện Kinh tế đối ngoại đã tập trung chủ yếu vào các nhiệm vụ :
- Nghiên cứu xây dựng chiến lược, chính sách và tham gia xây dựng các văn bản pháp luật trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại;
- Nghiên cứu đổi mới và hoàn thiện chính sách, cơ chế quản lý kinh tế đối ngoại;
- Nghiên cứu, dự báo thị trường hàng hoá thế giới, kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế;
- Hợp tác quốc tế trong công tác nghiên cứu khoa học chuyên ngành.
Viện Kinh tế đối ngoại đã hoạt động và phát triển đến khi hợp nhất Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương mại và Viện Kinh tế đối ngoại thành Viện Nghiên cứu Thương mại, theo Quyết định số 721/TTg ngày 8/11/1995 của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi một số tổ chức trực thuộc Bộ Thương mại.
2. Tổ chức quản lý hoạt động của Viện và những thành quả chủ yếu
Trong 14 năm xây dựng và phát triển (1982 - 1995), dưới sự quản lý điều hành của các thế hệ lãnh đạo, Viện Kinh tế ngoại thương và sau đó là Viện Kinh tế đối ngoại đã không ngừng lớn mạnh, đạt được một số những thành quả và có những đóng góp to lớn, quan trọng đối với sự phát triển của ngành ngoại thương và sau này là ngành thương mại.
 Luật sư, PGS. Lưu Văn Đạt là Viện trưởng đầu tiên và đảm nhiệm Viện trưởng Viện Kinh tế ngoại thương từ năm 1982 đến năm 1987.
 PGS.TS. Trần Văn Chu là Quyền Viện trưởng và sau đó là Viện trưởng Viện Kinh tế đối ngoại từ năm 1988 đến tháng 3 năm 1992.
 PGS.TS. Lê Nhật Thức là Viện trưởng Viện Kinh tế đối ngoại từ tháng 3 năm 1992 đến tháng 11 năm 1995, sau khi hợp nhất Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương mại và Viện Kinh tế đối ngoại thành Viện Nghiên cứu Thương mại, PGS.TS. Lê Nhật Thức tiếp tục là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại đến tháng 10 năm 1998.
Ngay sau khi Viện Kinh tế ngoại thương được thành lập, trên cơ sở đội ngũ cán bộ cốt cán từ Vụ Tổng hợp tình hình, Viện đã đề ra mục tiêu phấn đấu xây dựng Viện thành một Viện nghiên cứu đầu ngành ngang tầm các Viện nghiên cứu quốc gia trong một khoảng thời gian 10 - 15 năm. Để đạt mục tiêu này, Viện đã tập trung định vị rõ mục tiêu, định hướng phát triển và nội dung hoạt động cụ thể của Viện theo chức năng, nhiệm vụ được giao; xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu, thông tin, củng cố cơ sở vật chất và xây dựng thư viện; tạo lập phương pháp và phong thái hoạt động của một Viện nghiên cứu mang tính chuyên nghiệp về kinh tế ngoại thương. Tổ chức bộ máy của Viện được củng cố, ngoài lãnh đạo Viện, có các đơn vị trực thuộc như: Ban Kinh tế thế giới, Ban Ngoại thương Việt Nam, Ban Nghiên cứu thị trường hàng hoá thế giới, Ban nghiên cứu chính sách ngoại thương, Phòng Thông tin ngoại thương - Thư viện ngoại thương và Phòng Tài chính - Kế toán.
Từ khi thành lập, phạm vi, nội dung nghiên cứu của Viện không chỉ thu hẹp vào quan hệ ngoại thương mà còn mở rộng ở những quan hệ kinh tế quốc tế và khu vực như đầu tư, du lịch, hợp tác khoa học - kỹ thuật…
Trong giai đoạn 1982 - 1989, hoạt động nghiên cứu của Viện đã tập trung thực hiện chức năng, nhiệm vụ chính của Viện là nghiên cứu, xây dựng chiến lược phát triển ngoại thương, chính sách, luật pháp và cơ chế quản lý ngoại thương, nghiên cứu và dự báo thị trường thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế, thực hiện công tác thông tin, tư vấn về thị trường thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế… Viện đã nghiên cứu xây dựng chiến lược ngoại thương đầu tiên, chiến lược xuất nhập khẩu 1986 - 2000. Năm 1984, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã giao cho Viện trách nhiệm chủ trì nghiên cứu chính sách đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, trên cơ sở đó, tham gia soạn thảo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Luật này đã được Quốc hội thông qua cuối năm 1987, tác động sâu sắc đến đời sống kinh tế - xã hội của đất nước. Trong giai đoạn này, nhiều quan điểm, kiến nghị của Viện đã được lãnh đạo Bộ Ngoại thương chấp nhận.
Trong giai đoạn 1990 - 1995, hoạt động nghiên cứu của Viện Kinh tế đối ngoại đã tập trung vào nghiên cứu các đề tài về lịch sử ngoại thương Việt Nam 1945 - 1990; chiến lược phát triển ngoại thương Việt Nam đến năm 2010; đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý xuất nhập khẩu; thị trường thế giới về các ngành hàng và quan hệ thương mại của Việt Nam với một số đối tác chính; toàn cầu hoá, khu vực hoá và Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới… Đặc biệt, đề tài cấp Nhà nước “Luận cứ khoa học của việc tiếp tục đổi mới và hoàn thiện các chính sách và cơ chế quản lý kinh tế đối ngoại” (MS: KX.03.12) do Viện chủ trì thực hiện thành công, đã cùng cấp các luận cứ khoa học có giá trị cho việc hoạch định đường lối, chính sách kinh tế đối ngoại của Đảng, Nhà nước. Một số quan điểm, chính sách và kiến nghị của đề tài đã được Đảng, Chính phủ chấp nhận đưa vào Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII và một số nghị định của Chính phủ. Ngày 10/2/1992, Hội đồng Nhà nước ra văn bản số 192/HĐNN giao nhiệm vụ cho Bộ Thương mại và Du lịch chủ trì soạn thảo Luật Thương mại thay cho Pháp lệnh Thương mại (đã ghi vào chương trình xây dựng pháp luật từ năm 1989), một số cán bộ chủ chốt của Viện đã chủ động, tích cực tham gia vào nghiên cứu soạn thảo dự luật quan trọng này của đất nước. Để tạo điều kiện ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học của Viện vào thực tiễn của ngành, tư vấn cho các đối tác có nhu cầu trong và ngoài nước, Trung tâm tư vấn và đào tạo kinh tế đối ngoại đã được thành lập theo Quyết định số 1096 ngày 1/10/1993 của Bộ trưởng Bộ Thương mại. Trung tâm này đã hoạt động tích cực và thu được một số kết quả ban đầu trong công tác tư vấn và đào tạo chuyên ngành, góp phần tạo lập vị thế mới của Viện.
III. VIỆN KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ KINH TẾ VẬT TƯ (1982-1992)
1. Bối cảnh thành lập và đặc điểm xây dựng, phát triển Viện
Trong những năm 1970, hệ thống lưu thông cung ứng vật tư được tổ chức quản lý theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung cao độ. Theo tinh thần Nghị quyết 10 (khoá III) của Trung ương Đảng: “Việc phân phối tư liệu sản xuất trong nội bộ nền kinh tế quốc dân ngày càng trở nên quan trọng, nó là một hình thức lưu thông đặc biệt, một hình thức phân phối sản phẩm theo kế hoạch của Nhà nước, được thực hiện qua hệ thống cung cấp vật tư của Nhà nước”. Đến những năm đầu thập niên 1980, tình hình kinh tế - xã hội của đất nước đã có nhiều thay đổi, nhu cầu sản xuất và đời sống dân cư đã có bước phát triển mạnh mẽ, những chế độ và qui định của cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung cao độ không còn thích hợp. Để giúp cho Bộ Vật tư trong việc nghiên cứu và đề xuất cơ chế quản lý lưu thông cung ứng vật tư một cách có bài bản và có căn cứ khoa học, năm 1980 Bộ Vật tư quyết định thành lập Tổ nghiên cứu quản lý kinh tế vật tư. Đây là tổ chức nghiên cứu khoa học tiền thân của Viện Khoa học kỹ thuật và kinh tế vật tư.
Ngày 27 tháng 10 năm 1982, Hội đồng Bộ trưởng đã ra Quyết định số 182/HĐBT về việc thành lập một số cơ quan trực thuộc Bộ Vật tư, trong đó đã thành lập Viện Khoa học kỹ thuật và kinh tế vật tư - đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học trực thuộc Bộ Vật tư. Ngày 4 tháng 3 năm 1983, Bộ trưởng Bộ Vật tư đã ký Quyết định số 246/VTQĐ về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của Viện Khoa học kỹ thuật và kinh tế vật tư. Theo Quyết định này, nhiệm vụ cơ bản của Viện là giúp Bộ nghiên cứu những vấn đề về kinh tế, kỹ thuật và quản lý có tầm chiến lược toàn ngành và những việc chủ yếu về tổ chức quản lý thuộc chức năng quản lý nhà nước của Bộ; từng bước đổi mới cơ chế quản lý, kinh doanh vật tư, tổ chức các quan hệ hợp tác khoa học trong và ngoài nước về kinh tế kỹ thuật vật tư… Tổ chức bộ máy của Viện, ngoài lãnh đạo Viện, có 8 đơn vị như Ban phân phối lưu thông, Ban Kỹ thuật, Ban Tổng hợp, Ban Lý luận và Phòng Tư liệu...
Viện Khoa học kỹ thuật và kinh tế vật tư đã được xây dựng, phát triển trong 10 năm, đến tháng 3 năm 1992 đã hợp nhất với Viện Kinh tế Kỹ thuật thương nghiệp thành Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương mại theo Quyết định số 156/TM - TCCB của Bộ trưởng Bộ Thương mại.

2. Tổ chức quản lý hoạt động của Viện và những thành quả chủ yếu
Đồng chí Phùng Văn Kim là Viện trưởng đầu tiên và trong suốt 10 năm xây dựng, phát triển Viện Khoa học kỹ thuật và kinh tế vật tư (1982 - 1992).
Ngay sau khi thành lập, để có thể sớm đi vào hoạt động có hiệu quả, ngay trong quý IV/1982 và năm 1983, Viện đã tập trung củng cố tổ chức, tuyển chọn và sắp xếp cán bộ, làm rõ chức năng và nhiệm vụ cụ thể của Viện, xác định phương thức hoạt động của Viện; đồng thời triển khai ngay một số nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu bức xúc trong công tác quản lý của Bộ Vật tư.
Trong giai đoạn 1984 - 1987, Viện triển khai hoạt động có tính chất tập dượt, thu thập tư liệu, thực hiện một số đề tài với mục tiêu, phạm vị, nội dung hẹp, có thể ứng dụng ngay. Cũng trong giai đoạn này, Viện đã mở ra quan hệ hợp tác nghiên cứu về lưu thông, cung ứng vật tư, kỹ thuật với Viện NHIM thuộc Ủy ban cung ứng vật tư nhà nước Liên Xô. Trên cơ sở kinh nghiệm thực hiện các đề tài nhỏ và kinh nghiệm quốc tế thu được, Viện đã có bước phát triển mang tính “đột phá” khi tập trung thực hiện hoàn thành đề tài cấp Nhà nước: “Quyền tự chủ của các đơn vị kinh doanh cơ sở ngành vật tư”.
Trong giai đoạn 1988 - 1992, khi Viện đã trưởng thành, cùng với việc tăng cường công tác thông tin tư liệu phục vụ nghiên cứu, phục vụ yêu cầu của ngành, Viện đã tập trung đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và đạt được những kết quả quan trọng: Thực hiện gần 30 đề tài khoa học cấp Bộ, đặc biệt là Viện đã chủ trì tổ chức thực hiện thành công 2 chương trình nghiên cứu khoa học đồng bộ, mục tiêu:
1. Chương trình nghiên cứu: “Quy hoạch cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành cung ứng vật tư đến năm 2000”, thực hiện trong các năm 1988 - 1990 với 7 đề tài.
2. Chương trình nghiên cứu: “Đổi mới cơ chế quản lý cung ứng vật tư trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam”, thực hiện trong các năm 1988 - 1991 với 9 đề tài.
Đồng thời, cũng trong giai đoạn trưởng thành này, Viện đã giúp Bộ Vật tư xây dựng: “Chiến lược phát triển thương mại vật tư - kỹ thuật 1990 - 2000 và 2010”, sau này trở thành một trong 3 hợp phần của Chiến lược phát triển thương mại (vật tư, nội thương và ngoại thương), đóng góp vào cấu thành: “Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội 1991-2000” thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ VII. Không những thế, Viện đã nhất quán quan điểm gắn nghiên cứu lý luận với thực tiễn, từ cung cấp luận cứ khoa học cho Đảng và Nhà nước đến tổ chức ứng dụng kết quả nghiên cứu, chuyển giao kết quả nghiên cứu cụ thể cho Bộ và các doanh nghiệp. Viện đã tích cực giúp Bộ xây dựng các phương án chuyển từ cơ chế cũ sang thực hiện cơ chế mới - Cơ chế thị trường - của các Tổng công ty, Công ty trực thuộc Bộ. Nhiều đề tài sau khi được nghiệm thu, Viện còn được giao giúp Bộ chuyển hóa thành đề án trình Nhà nước ra quyết định. Một số đề tài cấp cơ sở, triển khai dưới dạng chuyên đề hẹp và giải quyết những vấn đề cụ thể, bức xúc và thuộc thẩm quyền của Bộ, được ứng dụng ngay để thử nghiệm.
Công tác tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của Viện đã được thực hiện bài bản. Hoạt động của Hội đồng khoa học Viện đã làm tốt chức năng tư vấn cho Viện trưởng, giúp Viện trưởng ra các quyết định đúng đắn, kịp thời. Lãnh đạo Viện điều hành hoạt động của Viện theo hai tuyến song hành giữa các phòng, ban và các chủ nhiệm đề tài nên vừa đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng giữa các đơn vị trong Viện, vừa chỉ đạo kịp thời, sâu sát các vấn đề khó, phức tạp cần theo dịnh hướng chung thống nhất, phát huy được trí tuệ tập thể và của mỗi cá nhân làm chủ nhiệm đề tài. Công tác tập hợp sử dụng đội ngũ cộng tác viên được chú trọng tăng cường, đã thu hút được đội ngũ cộng tác viên đông đảo, với nhiều chuyên gia hàng đầu về những lĩnh có liên quan, góp phần nâng cao chất lượng kết quả nghiên cứu, đánh giá những vấn đề chuyên ngành và liên ngành.
Tuy chỉ tồn tại trong 10 năm để rồi hợp nhất với Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương nghiệp thành Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương mại có tầm vóc lớn hơn, nhưng Viện Khoa học kỹ thuật và kinh tế vật tư đã có những đóng góp quan trọng đối với Bộ, với ngành vật tư nói riêng, với ngành thương mại sau này và nền kinh tế nói chung. Những đóng góp nổi bật của Viện là trong đổi mới tư duy kinh tế theo hướng kinh tế thị trường, thương mại hóa vật tư, chuyển đổi cơ chế quản lý và hoạt động của ngành vật tư từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường…
IV. VIỆN KINH TẾ - KỸ THUẬT THƯƠNG MẠI (1992-1995)
1. Bối cảnh thành lập và đặc điểm xây dựng, phát triển Viện
Sau khi Bộ Thương mại và Du lịch được thành lập (tháng 8/1991), để hợp lý hóa tổ chức bộ máy của Bộ, ngày 3/2/1992, Bộ trưởng Bộ Thương mại và Du lịch đã ký Quyết định số 156/TMDL-TCCB thành lập Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương mại trên cơ sở hợp nhất Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương nghiệp và Viện Khoa học kỹ thuật và kinh tế vật tư, trụ sở của Viện đặt tại 17 Yết Kiêu - Hà Nội. Các tổ chức trực thuộc Viện gồm: Ban Nghiên cứu nhu cầu và thị trường (sau đó đổi thành Trung tâm nghiên cứu thị trường), Ban Nghiên cứu doanh nghiệp thương mại, Ban Nghiên cứu cơ chế và chính sách thương mại, Ban Nghiên cứu chiến lược và quy hoạch phát triển thương mại, Trung tâm ứng dụng kỹ thuật thương mại và ăn uống, Phòng Tư liệu - Thư viện và Văn phòng Viện.
Về nhân lực, khi hợp nhất hai Viện, số lượng cán bộ của Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương mại có trên 80 người, trong đó có 01 Giáo sư và 7 cán bộ có học vị Tiến sĩ. GS.TS. Hoàng Đạt tiếp tục được Bộ trưởng Bộ Thương mại và Du lịch cử giữ chức vụ Viện trưởng Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương mại, lãnh đạo Viện đến đầu năm 1995 thì chuyển sang công tác khác. TS. Hoàng Thọ Xuân, Phó Viện trưởng được Bộ trưởng Bộ Thương mại giao nhiệm vụ Phó Viện trưởng phụ trách Viện từ tháng 2 năm 1995 đến tháng 11 năm 1995.
Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương mại được xây dựng và phát triển trong gần 4 năm thì hợp nhất với Viện Kinh tế đối ngoại thành Viện Nghiên cứu Thương mại theo Quyết định 721/TTg ngày 8/11/1995 của Thủ tướng Chính phủ.
2. Tổ chức quản lý hoạt động của Viện và những thành quả chủ yếu
Tuy chỉ tồn tại gần 4 năm thì hợp nhất nhưng Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương mại đã đạt được bước phát triển nhanh, góp phần tạo đà cho sự phát triển của Viện Nghiên cứu Thương mại sau này.
Ngay sau khi thực hiện hợp nhất hai Viện thành Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương mại, Lãnh đạo Viện đã khẩn trương sắp xếp cán bộ, củng cố tổ chức bộ máy, thành lập Hội đồng khoa học Viện, triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu chuyển tiếp từ hai Viện cũ sang Viện mới và triển khai mới nhiều nhiệm vụ nghiên cứu cấp Nhà nước và cấp Bộ. Trong đó, Viện đã chủ trì thực hiện thành công 01 đề tài cấp Nhà nước, 02 chương trình quy hoạch toàn ngành thương mại, 18 đề tài cấp Bộ về đổi mới cơ chế, chính sách quản lý, kinh doanh thương mại. Ngoài việc chủ trì một đề tài cấp Nhà nước và tham gia các đề tài khác, Viện trưởng còn là thành viên trong Ban chủ nhiệm Chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước về: “Đổi mới, hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta”, qua đó quan hệ giữa Viện và các viện, trường khác được mở rộng, hàng loạt hội thảo khoa học liên ngành được tổ chức, vị thế của Viện được nâng cao. Một số chương trình, đề tài tiêu biểu mà Viện đã chủ trì thực hiện thành công trong giai đoạn 1992-1995 là:
 Đề tài cấp nhà nước: “Luận cứ khoa học của đổi mới, hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý thương mại, dịch vụ”; Mã số KX.03.16.
 Chương trình nghiên cứu cấp Bộ: “Quy hoạch cơ sở vật chất kỹ thuật thương mại đến năm 2000”.
 Chương trình nghiên cứu cấp Bộ: “Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thương mại Việt Nam đến năm 2010”.
 Đề tài cấp Bộ: “Xây dựng cấu trúc thị trường hợp lý theo chiến lược phát triển thị trường đến năm 2000”; Mã số: 92-78-265.
 Đề tài cấp Bộ: “Những biện pháp đồng bộ nâng cao khả năng cạnh tranh của thương mại quốc doanh”; Mã số: 92-78-264.
 Đề tài cấp Bộ: “Đổi mới chính sách lưu thông hàng hóa và tổ chức hợp lý các kênh lưu thông hàng hóa”; Mã số: 92-78-263.
 Đề tài cấp Bộ: “Đổi mới mạng lưới tổ chức kinh doanh thương nghiệp thuộc Bộ Thương mại trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường có điều tiết”.
Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học do Viện chủ trì thực hiện đã góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn các chủ trương, đường lối kinh tế của Đảng ở giai đoạn đầu của thời kỳ Đổi mới, đóng góp tích cực vào việc chuẩn bị các Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII cũng như các chủ trương, chính sách của nhà nước về ngành thương mại. Đặc biệt, Báo cáo khoa học của đề tài cấp Nhà nước: “Luận cứ khoa học của đổi mới, hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý thương mại, dịch vụ” là một cơ sở khoa học quan trọng cho xây dựng Nghị quyết số 12/NQ-TW ngày 3/01/1996 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động thương nghiệp, phát triển thị trường theo định hướng XHCN. Đây là Nghị quyết đầu tiên của Bộ Chính trị đề ra các quan điểm, các chủ trương và biện pháp lớn chỉ đạo đổi mới toàn diện, đồng bộ quản lý Nhà nước về thương mại, thị trường trong nước phù hợp với bối cảnh mới của tình hình trong nước và quốc tế.
Cùng với công tác nghiên cứu khoa học, công tác thông tin, đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu đã được Viện chú trọng và tăng cường. Sau khi Tạp chí Nội thương tách khỏi Viện thành Tạp chí thương mại, một bộ phận cán bộ làm công tác thông tin của Viện được chuyển sang Trung tâm thông tin thương mại, Viện đã củng cố Phòng Thông tin - tư liệu. Viện đã xuất bản được một số ấn phẩm thông tin quan trọng, không chỉ phục vụ cho Viện mà còn cho toàn ngành. Viện cũng góp phần tích cực trong công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý của ngành thương mại, tham gia đào tạo cán bộ khoa học bậc phó tiến sĩ với các Trường, Viện bạn. Các cán bộ chủ chốt của Viện đều tham gia biên soạn tài liệu và giảng dạy các chuyên đề về quản lý thương mại, về Marketing cho cán bộ thương mại ở các cơ quan Trung ương, địa phương và các doanh nghiệp thuộc Bộ.
V. VIỆN NGHIÊN CỨU THƯƠNG MẠI (từ tháng 11/1995 đến nay)
1. Bối cảnh thành lập và chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Viện
Trong các năm 1991 - 1993, tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước về thương mại có nhiều thay đổi. Sau khi có Nghị định số 95/CP ngày 4/12/1993 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Thương mại, tình hình tổ chức bộ máy của Bộ Thương mại đã từng bước được sắp xếp, điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện. Từ năm 1995, nước ta bắt đầu hội nhập thương mại khu vực và thế giới (Việt Nam gia nhập ASEAN tháng 7/1995, cam kết thực hiện AFTA từ tháng 01/1996, nộp đơn gia nhập WTO tháng 01/1995, bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ năm 1995, tham gia sáng lập ASEM tháng 3/1996…). Trong xu thế hội nhập quốc tế, các quan hệ kinh tế trong nước và quan hệ kinh tế giữa nước ta với phần còn lại của thế giới sẽ đan chéo với nhau, biên giới giữa thị trường trong nước và thị trường ngoài nước sẽ “mờ dần” trong quá trình hội nhập ngày càng rộng, thương mại trong nước và thương mại quốc tế sẽ gắn bó và thống nhất, hệ thống lưu thông phân phối hàng hóa ở thị trường trong nước sẽ kết nối và tham gia mạng lưới phân phối toàn cầu, cơ chế quản lý và chính sách thương mại của nhà nước ta sẽ phải từng bước điều chỉnh thích ứng với các cam kết và thông lệ quốc tế… Bối cảnh đó đòi hỏi công tác quản lý nhà nước về thương mại phải có sự thay đổi, điều chỉnh mới; khoa học thương mại cần có sự chuyển hướng và tích hợp lực lượng nghiên cứu để đủ sức cung cấp các luận cứ khoa học đáp ứng yêu cầu mới về quản lý nhà nước ngành thương mại.
Việc hợp nhất Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương mại và Viện Kinh tế đối ngoại thành Viện Nghiên cứu Thương mại đã được thực hiện theo Quyết định số 721/TTg ngày 8/11/1995 của Thủ tướng Chính phủ trong bối cảnh và để đáp ứng những yêu cầu mới của ngành thương mại nêu trên .
Căn cứ Quyết định số 721/TTg, Bộ trưởng Bộ Thương mại đã ký Quyết định số 798/TM-TCCB ngày 24/11/1995 về việc cử Viện trưởng và các Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại. Theo Quyết định này:
1. Đ/c Lê Nhật Thức, Viện trưởng Viện Kinh tế đối ngoại giữ chức Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại.
2. Đ/c Hoàng Thọ Xuân, Phó Viện trưởng phụ trách Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương mại giữ chức Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại.
3. Đ/c Lê Văn Sinh, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương mại giữ chức Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại.
4. Đ/c Trần Văn Hoan, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương mại giữ chức Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại.
5. Đ/c Dương Văn Long, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế đối ngoại giữ chức Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại.
Sau khi việc hợp nhất về bộ máy tổ chức quản lý Viện được hoàn thành, các tổ chức Đảng, Công đoàn, Đoàn Thanh niên cũng được hợp nhất và bước vào một giai đoạn hoạt động mới.
Ngày 27 tháng 01 năm 1996, Bộ trưởng Bộ Thương mại đã ký Quyết định số 71/TM-TCCB về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Viện Nghiên cứu Thương mại - đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học trực thuộc Bộ Thương mại. Theo Quyết định này, Viện Nghiên cứu Thương mại có chức năng nghiên cứu chiến lược, quy hoạch phát triển thương mại, chính sách, cơ chế quản lý thương mại và thực hiện các hoạt động thông tin, đào tạo, tư vấn về thương mại. Viện có các nhiệm vụ cụ thể và quyền hạn chủ yếu sau:
1. Nghiên cứu luận cứ khoa học phục vụ cho việc xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển, chính sách, cơ chế quản lý thương mại.
2. Nghiên cứu dự báo quan hệ cung cầu, xu hướng phát triển thị trường trong và ngoài nước.
3. Tổ chức điều tra, khảo sát, tổng kết thực tiễn về hoạt động thương mại, chính sách, cơ chế quản lý và tổng quan tình hình thị trường.
4. Tổ chức thực hiện hoạt động tư vấn, bồi dưỡng nghiệp vụ và nâng cao trình độ, đào tạo sau và trên đại học về thương mại.
5. Hợp tác nghiên cứu và trao đổi thông tin khoa học thương mại với các tổ chức nghiên cứu, các nhà khoa học trong và ngoài nước.
6. Quản lý cán bộ, cơ sở vật chất- kỹ thuật và kinh phí được cấp theo quy định của nhà nước.
7. Có quyền tham dự các cuộc họp về phương hướng và kế hoạch, các hội thảo về phát triển thương mại.
8. Có quyền ký kết hợp đồng nghiên cứu triển khai với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để thực hiện nhiệm vụ được giao, không trái với các quy định của pháp luật của nhà nước.
Tổ chức bộ máy của Viện gồm Lãnh đạo Viện và 7 tổ chức trực thuộc:
1. Ban Nghiên cứu chiến lược phát triển thương mại.
2. Ban Nghiên cứu chính sách và cơ chế quản lý thương mại.
3. Ban Nghiên cứu thị trường (sau đổi thành Ban Nghiên cứu và dự báo thị trường).
4. Phòng Thông tin thư viện.
5. Trung tâm tư vấn và đào tạo kinh tế thương mại (đổi tên từ Trung tâm tư vấn và đào tạo kinh tế đối ngoại) được thành lập theo Quyết định số 1096/TM-TCCB ngày 1/10/1993).
6. Văn phòng Viện.
7. Chi nhánh Viện tại thành phố Hồ Chí Minh.
Thực hiện Quyết định số 71/TM-TCCB và theo quy định của pháp luật về quản lý hoạt động khoa học và công nghệ, Viện Nghiên cứu Thương mại đã hoàn tất hồ sơ và nộp Đơn xin đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ gửi Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường ngày 21/4/1996. Theo Hồ sơ đăng ký này, Viện Nghiên cứu Thương mại là tổ chức khoa học của Nhà nước, có tên giao dịch bằng tiếng nước ngoài là Vietnam Institute for Trade (VIT); có trụ sở chính tại 46 - Ngô Quyền - Hoàn Kiếm - Hà Nội và các cơ sở giao dịch tại 17 Yết Kiêu - Hai Bà Trưng - Hà Nội, Phân viện tại TP. Hồ Chí Minh. Tổng số biên chế chính thức của Viện tại thời điểm đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ là 101 người, không có kiêm nhiệm.
Sau khi đăng ký chính thức hoạt động khoa học và công nghệ, Viện đã khẩn trương xây dựng các quy chế, điều lệ tổ chức và hoạt động, các chương trình kế hoạch công tác, sắp xếp đội ngũ cán bộ lãnh đạo các đơn vị trực thuộc. Ngày 8/6/1996, Bộ trưởng Bộ Thương mại đã ký Quyết định số 500/TM-TCCB phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của Viện Nghiên cứu Thương mại. Trong Điều lệ tổ chức và hoạt động của Viện, đã phân định rõ trách nhiệm của Viện trưởng và các Phó Viện trưởng, các chức năng và nhiệm vụ cụ thể của các tổ chức trực thuộc Viện, trách nhiệm của các trưởng đơn vị và các phó đơn vị phụ thuộc Viện. Theo Điều lệ này, chức năng tổng hợp, tham mưu giúp Viện trưởng quản lý các đề tài khoa học và công tác đào tạo của Viện do Văn phòng Viện đảm nhiệm; chức năng, nhiệm vụ của Viện tại phía Nam do Phân viện tại Thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm thực hiện; các chức năng, nhiệm vụ hợp tác nghiên cứu và trao đổi với các tổ chức nghiên cứu, các nhà khoa học trong và ngoài nước cho việc thực hiện nhiệm vụ của Viện do Phòng Thông tin - tư liệu đảm nhiệm. Hội đồng khoa học Viện là tổ chức tư vấn cho Viện trưởng.
Viện Nghiên cứu Thương mại được thành lập từ sự hợp nhất giữa Viện Kinh tế đối ngoại và Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương mại, bắt đầu hoạt động từ năm 1996, năm đầu của kế hoạch 5 năm 1996 - 2000. Việc hợp nhất hai Viện thực sự đã nâng cao vị trí, vai trò của Viện trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chủ động hội nhập quốc tế có hiệu quả theo đường lối của Đảng và Nhà nước.
Viện đã được Nhà nước xác định là một trong 43 Viện khoa học đầu ngành của quốc gia. Do được thừa hưởng đội ngũ cán bộ nghiên cứu từ các Viện tiền thân, nên ngay từ khi bắt đầu hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ của Viện Nghiên cứu Thương mại, Viện đã có gần 100 cán bộ nghiên cứu được đào tạo cơ bản, am hiểu sâu sắc các vấn đề lý luận và thực tiễn ngành thương mại. Khi đó, Viện đã có 13 cán bộ khoa học có trình độ học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ, học hàm phó giáo sư (trong đó có 10 tiến sĩ khoa học và 3 phó giáo sư) thuộc các chuyên ngành khác nhau, có đủ khả năng giảng dạy và hướng dẫn nghiên cứu sinh. Với vị thế và điều kiện thuận lợi đó, Lãnh đạo Viện đã kịp thời đề ra chủ trương mang tính chiến lược, đúng đắn: Xây dựng “Đề án xin mở cơ sở đào tạo trên đại học của Viện Nghiên cứu Thương mại” nhằm tạo thế đi hai chân vững chắc cho sự phát triển dài hạn của Viện. Ngày 10 tháng 12 năm 1996, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 915/TTg về việc giao nhiệm vụ đào tạo trên đại học cho Viện Nghiên cứu Thương mại. Đây là nhiệm vụ mới mẻ, nặng nề nhưng rất vẻ vang của Viện, tạo thế và lực mới cho các bước phát triển sau này của Viện Nghiên cứu Thương mại.
Thực hiện Quyết định số 915/TTg, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Quyết định số 6124/GD-ĐT ngày 27/12/1996 về việc giao chuyên ngành đào tạo nghiên cứu sinh cho Viện Nghiên cứu Thương mại. Theo Quyết định này, Viện được giao chuyên ngành đào tạo là “Kinh tế quản lý và kế hoạch hóa kinh tế quốc dân”, mã số: 5.02.05. Đến đầu năm 2005 được đổi sang chuyên ngành: “Thương mại”, mã số: 62.34.10.01 theo Quyết định số 102/QĐ-BGD&ĐT- ĐH&SĐH ngày 10/01/2005 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Để hợp lý hóa tổ chức bộ máy của Viện Nghiên cứu Thương mại, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ đào tạo trên đại học và quản lý công tác khoa học của Viện, ngày 3/01/1997, Bộ trưởng Bộ Thương mại đã ký Quyết định số 05/TM-TCCB về việc thành lập Phòng Quản lý khoa học và Đào tạo thuộc Viện Nghiên cứu Thương mại. Từ thời điểm này, tổ chức bộ máy của Viện được bổ sung thành 8 tổ chức trực thuộc. Bộ phận cán bộ chuyên trách quản lý khoa học và đào tạo thuộc Văn phòng Viện được tách chuyển về Phòng Quản lý Khoa học và Đào tạo.
Từ năm 1997 đến nay, chức năng của Viện không có sự thay đổi nhưng nhiệm vụ của Viện đã ngày càng được mở rộng, tổ chức bộ máy của Viện đã có một số thay đổi, bổ sung, điều chỉnh đáng chú ý sau:
a) Những kế nhiệm, bổ sung Lãnh đạo Viện:
- Các đồng chí Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại qua các giai đoạn:
+ Viện trưởng Lê Nhật Thức: 11/1995 - 9/1998
+ Viện trưởng Nguyễn Văn Nam: 10/1998 - 12/2002
+ Viện trưởng Nguyễn Văn Lịch: 01/2003 - 12/2010
+ Viện trưởng Đinh Văn Thành: 01/2010 - 30/9/2014

+ Viện trưởng Phạm Nguyên minh: từ 10/2014

- Các đồng chí Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại trong các giai đoạn:
+ Phó Viện trưởng Hoàng Thọ Xuân: 11/1995 - 2000
+ Phó Viện trưởng Trần Văn Hoan: 11/1995 - 1997
+ Phó Viện trưởng Lê Văn Sinh: 11/1995 - 1998
+ Phó Viện trưởng Dương Văn Long: 11/1995 - 2000
+ Phó Viện trưởng Đinh Văn Thành: 7/1997 - 2009
+ Phó Viện trưởng Nguyễn Văn Lịch: 1999 - 2002
+ Phó Viện trưởng Lê Thiền Hạ: 2002 - 2006
+ Phó Viện trưởng Trần Công Sách: 01/2011 - 2014

+ Phó Viện trưởng Trịnh Thị Thanh Thuỷ: 05/2015
b) Những bổ sung, điều chỉnh các tổ chức trực thuộc Viện:
- Năm 2003: Thành lập Phòng hợp tác quốc tế; tháng 1/2011 hình thành Trung tâm tham vấn về WTO của Việt Nam đặt tại Viện.
- Năm 2004: Thành lập Tổ Nghiên cứu thương mại và môi trường; năm 2005 thành lập Ban nghiên cứu thương mại và môi trường, đến năm 2007 nâng cấp thành Trung tâm Nghiên cứu thương mại và môi trường.
- Năm 2004 : Thành lập Tổ Tài chính - Kế toán; năm 2005 thành lập Phòng tài chính kế toán.
- Năm 2004: Thành lập Tổ Xúc tiến và quản lý dự án; năm 2005 chuyển đổi thành Phòng nghiên cứu và phát triển dự án.
Hiện nay, trong cơ cấu tổ chức bộ máy của Viện Nghiên cứu Thương mại, Lãnh đạo Viện gồm Viện trưởng và 02 Phó Viện trưởng; các tổ chức trực thuộc Viện gồm 12 đơn vị, trong đó có 11 đơn vị ở Hà Nội và 1 Phân viện ở TP. Hồ Chí Minh. Tổng số cán bộ của Viện là trên 100 người, trong đó có 6 PGS.TS, 8 tiến sĩ, 20 thạc sĩ. Hội đồng khoa học Viện gồm 15 thành viên. Viện đang sử dụng 02 trụ sở tại Hà Nội (46 Ngô Quyền, 17 Yết Kiêu) và 01 trụ sở tại thành phố Hồ Chí Minh (số 8, Đường Nam Kỳ khởi nghĩa).
2. Đặc điểm hoạt động và những thành quả chủ yếu của Viện Nghiên cứu Thương mại
Kế thừa thành quả của các Viện tiền thân, trong hơn 15 năm qua, Viện Nghiên cứu Thương mại đã không ngừng được củng cố và phát triển, đạt được những bước tiến dài. Có thể chia thành 4 bước với những đặc điểm, đặc thù chủ yếu sau:
- Giai đoạn 1996 - 2000:
Trong giai đoạn này, Viện đã chú trọng củng cố tổ chức bộ máy, chấn chỉnh công tác quản lý, giải quyết nhiệm vụ cấp bách của một Viện mới được hợp nhất. Đồng thời, hoạt động nghiên cứu khoa học đã nhanh chóng được triển khai theo hai hướng chính: (1) Các nhiệm vụ nghiên cứu do Bộ Thương mại giao, gồm các đề tài cấp Bộ và các dự án quy hoạch phát triển thương mại; (2) Các dự án do Viện tự khai thác, ký kết hợp đồng với các địa phương hoặc các đơn vị ngoài Bộ. Trong giai đoạn này, Viện đã chủ trì thực hiện 37 đề tài, 04 dự án quy hoạch tổng thể phát triển thương mại do Bộ Thương mại giao nhiệm vụ; thực hiện gần 30 dự án quy hoạch do Viện tự khai thác ký kết hợp đồng với các địa phương, 02 dự án điều tra thị trường, 06 tiểu dự án về công nghệ thông tin và thương mại điện tử. Hướng nghiên cứu chủ yếu của các đề tài, dự án do Viện chủ trì trong giai đoạn này là các vấn đề về chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển thương mại; các vấn đề về đổi mới, hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý thương mại; nghiên cứu dự báo thị trường và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu; các vấn đề về hội nhập kinh tế và thương mại quốc tế; các vấn đề về doanh nghiệp thương mại, cổ phần hóa và ứng dụng thương mại điện tử.
Tổ chức hoạt động đào tạo, nhất là đào tạo Nghiên cứu sinh (NCS) của Viện được xác định là nhiệm vụ trọng tâm thứ hai sau hoạt động nghiên cứu. Là một cơ sở đào tạo Sau đại học được thành lập sau nhiều cơ sở khác, không được Nhà nước giao nhiệm vụ đào tạo thạc sĩ, thiếu nguồn thí sinh dự tuyển, nhưng trong 4 năm 1997 - 2000 Viện đã tuyển được 13 NCS. Một nhiệm vụ khá nặng nề trong công tác đào tạo NCS giai đoạn đầu này của Viện là xây dựng khung chương trình đào tạo, xây dựng đề cương chi tiết giáo trình, bài giảng cho 9 môn học chuyên ngành phù hợp với chuyên ngành đào tạo NCS được giao. Đến cuối năm 2000, về cơ bản công tác đào tạo NCS của Viện đã đi vào nề nếp, đã có 02 NCS đầu tiên bảo vệ luận án tiến sĩ cấp cơ sở, làm thủ tục chuẩn bị bảo vệ luận án cấp nhà nước.
Công tác thông tin, tư vấn, đào tạo bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ được triển khai bài bản, thường xuyên ngay từ những năm đầu hợp nhất hai Viện. Hoạt động tư vấn và đào tạo kinh tế thương mại đã có những khởi sắc, đã mở nhiều lớp đào tạo nghiệp vụ ngắn hạn, các lớp tiếng Anh thương mại, các lớp bồi dưỡng về luật thương mại và kiến thức pháp lý cho cán bộ cả trong và ngoài ngành thương mại, các doanh nghiệp… Công tác thông tin tư liệu được đẩy mạnh, đã biên soạn, xuất bản sách chuyên khảo: “Hệ thống chính sách thương mại nước CHXHCN Việt Nam”, phát hành bản tin tuần cho một số thương vụ; tham gia chuẩn bị tài liệu cho các vòng đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam, biên soạn các “Cẩm nang” về quan hệ thương mại Việt - Mỹ, Việt - Nhật, Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - Tây Á Phi và dự án cấp Nhà nước về thương mại và môi trường đã có giá trị ứng dụng thực tiễn.
Trong giai đoạn 1996-2000 các tổ chức Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên đã từng bước được kiện toàn. Đảng bộ Viện Nghiên cứu Thương mại là Đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ Bộ Thương mại, gồm 43 Đảng viên, luôn được công nhận là Đảng bộ trong sạch, vững mạnh.
Giai đoạn 2001 - 2005:
Đặc điểm chủ yếu trong công tác nghiên cứu khoa học của Viện giai đoạn này là Viện đã có biến tiến vượt bậc trong mở rộng quy mô và nâng cấp hoạt động nghiên cứu các đề tài, dự án khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ và sớm tham gia vào thị trường khoa học công nghệ. Từ năm 2001, Bộ Khoa học, công nghệ và Môi trường, Bộ Thương mại đã chuyển mạnh từ cơ chế giao đề tài sang cơ chế tuyển chọn, đấu thầu các đề tài cấp Nhà nước và cấp Bộ. Viện Nghiên cứu Thương mại đã sớm thích ứng với cơ chế mới trong quản lý hoạt động khoa học công nghệ của Nhà nước. Trong hai năm 2001-2002, Viện được Nhà nước giao nhiệm vụ và đã chủ trì thực hiện thành công hai đề tài khoa học cấp Nhà nước : (1) Đề tài “Chính sách và giải pháp phát triển thị trường hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 2001 - 2010, tầm nhìn đến năm 2020”, mã số 2001 - 78 - 001, (2) Đề tài: “Nghiên cứu các điều ước quốc tế về thương mại, đặc biệt là thương mại dịch vụ, phục vụ quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế”. Ngay khi Nhà nước bắt đầu thực hiện cơ chế tuyển chọn, đấu thầu đề tài, Viện đã chủ động, tích cực tham gia và đã trúng tuyển 2 đề tài thuộc Chương trình khoa học công nghệ trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 “Ứng dụng công nghệ tiên tiến trong phát triển các sản phẩm xuất khẩu và chủ lực”, mã số KC.06. Đó là: (1) Đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống cơ chế chính sách và các giải pháp nhằm phát triển sản xuất các sản phẩm xuất khẩu và chủ lực”, mã số KC.06.11. CN; (2) Đề tài: “Nghiên cứu, điều tra và dự báo thị trường xuất khẩu cho một số chủng loại nông lâm, thuỷ sản”, mã số KC.06.01.NN.
Với kết quả và kinh nghiệm thu được trong tham gia tuyển chọn, chủ trì các đề tài cấp Nhà nước cũng như trong tổ chức, triển khai thực hiện đề tài, trong giai đoạn này, Viện đã trúng tuyển thêm 01 đề tài độc lập cấp Nhà nước và trên 30 đề tài, dự án cấp Bộ.
Trong giai đoạn 2001 - 2005, Viện cũng tăng cường hoạt động xúc tiến, ký kết hợp đồng tư vấn xây dựng các dự án quy hoạch phát triển thương mại với các địa phương, chủ trì thực hiện các nhiệm vụ Nhà nước về bảo vệ môi trường.
Tổng hợp cả giai đoạn 2001 - 2005, Viện đã chủ trì thực hiện 05 đề tài khoa học cấp Nhà nước, 01 dự án cấp Nhà nước về điều tra, 85 đề tài, dự án cấp Bộ, khai thác và phối hợp thực hiện gần 30 dự án quy hoạch phát triển thương mại và quy hoạch chợ các tỉnh, thành phố trong cả nước, thực hiện trên 10 Nhiệm vụ Nhà nước về bảo vệ môi trường, góp phần thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) về khoa học công nghệ và thực hiện kế hoạch khoa học công nghệ 2001 -2005 của Bộ Thương mại. Báo cáo khoa học các đề tài, dự án các cấp do Viện chủ trì, nhất là 05 đề tài cấp Nhà nước, đã góp phần cung cấp các luận cứ khoa học cho việc xây dựng các văn kiện Đại hội IX của Đảng, cho việc xây dựng pháp luật, cơ chế quản lý thương mại, chính sách phát triển xuất khẩu, hội nhập quốc tế, phát triển thương mại bền vững…
Hoạt động đào tạo tiến sĩ của Viện từng bước đi vào chiều sâu, nâng cao chất lượng, uy tín của cơ sở đào tạo. Chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm đã được Viện thực hiện 100%, một số năm phải xin Bộ Giáo dục và Đào tạo bổ sung chỉ tiêu. Đến hết năm 2005, Viện đã tuyển và đào tạo tổng số 36 nghiên cứu sinh, trong đó có 13 nghiên cứu sinh đã bảo vệ thành công Luận án tiến sĩ cấp Nhà nước. Kết quả này cũng góp phần tạo tiền đề, điều kiện cho một số cán bộ chủ chốt của Viện trực tiếp tham gia đào tạo nghiên cứu sinh, được Nhà nước công nhận chức danh phó giáo sư, tăng cường đội ngũ giáo viên hướng dẫn nghiên cứu sinh của Viện.
Hoạt động hợp tác quốc tế của Viện đã được mở rộng, tăng cường. Ngoài việc duy trì quan hệ hợp tác với Trường đại học Wollongong (Australia) và các đối tác ở giai đoạn trước, trong giai đoạn này Viện đã thiết lập quan hệ hợp tác với Viện Khoa học xã hội Quảng Tây, Vân Nam (Trung Quốc), trường đại học Victoria (Australia)… Thư viện ngành thương mại được đặt tại Viện đã được nâng cấp, hiện đại hoá, điện tử hoá để phục vụ tốt nhất cho hoạt động nghiên cứu - đào tạo của Viện, đáp ứng nhu cầu về thông tin thương mại cho các đơn vị, cá nhân trong và ngoài ngành thương mại.
Công tác Đảng, công đoàn, đoàn thanh niên, nữ công của Viện được triển khai khá sôi động trong giai đoạn 2001 - 2005. Đảng uỷ Viện và các Chi bộ trực thuộc đã chú trọng công tác phát triển đảng, kết nạp được nhiều đảng viên mới. Công tác thi đua khen thưởng của Viện được tiến hành thường xuyên hàng năm, góp phần khích lệ cán bộ nhân viên của Viện hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.
Giai đoạn từ năm 2006 đến nay:
Trong giai đoạn này, tình hình quốc tế, trong nước có nhiều sự kiện lớn, tác động nhiều mặt đến tổ chức quản lý hoạt động của Viện. Năm 2006, Đại hội X của Đảng đã đề ra kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2006 - 2010, Việt Nam gia nhập WTO. Năm 2007, hợp nhất Bộ Thương mại và Bộ Công nghiệp thành Bộ Công Thương… Nghị định 115/NĐ - CP năm 2005 đã mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra những thách thức rất lớn đối với sự phát triển của Viện. Hai năm 2009 - 2010, Đảng và Nhà nước đã đặt ra nhiều nhiệm vụ đối với Bộ Công Thương phải thực hiện để phục vụ cho việc xây dựng các Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI... Đầu năm 2011, Đại hội Đảng lần thứ XI thành công, thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015, đã đặt ra nhiều nhiệm vụ mới đối với Ngành, Bộ Công Thương.
Bước phát triển mang tính đột phá của Viện trong giai đoạn 2006 -2011 là hoạt động của Viện ngày càng gắn kết chặt chẽ với hoạt động quản lý Nhà nước, Viện đã được Bộ giao đảm nhiệm chủ trì, phối hợp thực hiện trên 10 đề án nghiên cứu, đề án chiến lược, giải quyết những vấn đề lớn, phức tạp, cấp bách của Ngành, liên Ngành và Quốc gia theo yêu cầu đột xuất của Đảng, Nhà nước và của Bộ. Nhờ những thành quả đạt được của các giai đoạn trước, uy tín của Viện đối với Bộ được nâng lên, Bộ đã giao cho Viện chủ trì, phối hợp thực hiện một số đề án như:
1. Phối hợp với Vụ Chính sách thị trường trong nước xây dựng “Đề án phát triển thương mại trong nước đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020”.
2. Phối hợp với Vụ Xuất nhập khẩu và một số đơn vị xây dựng đề án phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006 - 2010.
3. Chủ trì và phối hợp với một số vụ của Bộ Công Thương, một số đơn vị ngoài ngành có liên quan xây dựng Báo cáo khoa học về “Nhập siêu và giải pháp kiềm chế nhập siêu”.
4. Xây dựng đề án: “Đánh giá tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đến kinh tế và thương mại Việt Nam”.
5. Xây dựng Báo cáo chuyên đề: “Vấn đề độc lập tự chủ trong hội nhập quốc tế”.
6. Chủ trì soạn thảo Đề án: “Vai trò của ngành Công Thương trong việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”.
7. Chủ trì soạn thảo Đề án: “Chiến lược điều chỉnh cơ cấu thương mại Việt Nam theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá”.
8. Chủ trì soạn thảo Đề án: “Hoàn thiện thể chế môi trường kinh doanh ở Việt Nam hiện nay”.
9. Xây dựng Báo cáo khoa học và soạn thảo Đề án: “Chiến lược tham gia các khu vực thương mại tự do (FTA) trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” do Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế chủ trì, đang trình Thủ tướng Chính phủ để phê duyệt.
10. Xây dựng Đề án: “Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu hàng hoá thời kỳ 2011 - 2020” do Thủ tướng Chính phủ giao cho Bộ Công Thương chủ trì thực hiện.
Cùng với việc xây dựng các đề án, thực hiện các nhiệm vụ đột xuất khác được Đảng, Nhà nước và Bộ Công Thương giao, trong giai đoạn 2006 - 2010, Viện đã chủ trì thực hiện thành công 5 đề tài cấp Nhà nước, trên 40 đề tài cấp Bộ, trên 30 dự án cấp Bộ và dự án quy hoạch ngành thương mại, gần 30 nhiệm vụ nhà nước về bảo vệ môi trường. Một số đề tài/dự án tiêu biểu như:
1. Đề tài cấp Nhà nước: “Hướng tới nền kinh tế thị trường ở Việt Nam - lộ trình và các giải pháp hoàn thiện”; Mã số KX. 01.11/06 - 10.
2. Đề tài cấp Nhà nước: “Tăng cường năng lực tham gia của hàng nông sản Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu trong điều kiện hiện nay của Việt Nam”; Mã số KX. 01.16/06 - 10.
3. Đề tài cấp Nhà nước: “Quan hệ hợp tác kinh tế của Việt Nam với Trung Quốc”; Mã số KX.01.10/06 - 10.
4. Đề tài cấp Bộ: “Nhập siêu và các giải pháp kiềm chế nhập siêu”.
5. Đề tài cấp Bộ: “Hoàn thiện thể chế môi trường kinh doanh, thực thi các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam”.
6. Đề tài cấp Bộ: “Đề xuất các giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”.
Các công trình nghiên cứu của Viện trong giai đoạn từ năm 2006 đến nay đã góp phần giải quyết nhiều vấn đề khoa học kinh tế và thương mại trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của nước ta. Qua đó, cung cấp luận cứ khoa học cho Bộ Công Thương, các cơ quan tham mưu của Đảng, Quốc hội, Chính phủ đề ra các chủ trương chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, hoàn thiện luật pháp và cơ chế quản lý kinh tế, xây dựng chính sách và các công cụ thúc đẩy phát triển thương mại, đóng góp thiết thực cho sự phát triển đất nước.
Công tác đào tạo, nhất là đào tạo tiến sĩ của Viện trong giai đoạn này được đẩy mạnh cả về chiều rộng và chiều sâu. Trong 5 năm 2006-2010, Viện đã tuyển 5 khoá NCS với tổng số 32 NCS, đã tổ chức cho 10 NCS bảo vệ thành công luận án và được cấp bằng tiến sĩ.
Hoạt động thông tin, tư vấn và các hoạt động chuyên môn khác của Viện đều có bước phát triển mới, đặc biệt là khai trương và đi vào vận hành Thư viện điện tử của ngành thương mại và Trung tâm Tham vần về WTO tại Việt Nam. Công tác Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên tiếp tục được củng cố, tăng cường.
Công tác tài chính kế toán của Viện từ năm 2006 đã từng bước chuyển sang cơ chế quản lý mới, đáp ứng yêu cầu hoạt động của một đơn vị sự nghiệp có thu, tự chủ một phần về tài chính theo tinh thần Nghị định 115/NĐ - CP của Chính phủ, phù hợp với tính chất của một Viện nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý Nhà nước.

 

Thông báo của Viện
» Lịch bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp Viện của NCS Nguyễn Thúy Hiền
» Lịch bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp Viện của NCS Trần Đinh Nghị
» Thông tin tóm tắt về những kết luận mới của Luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Hữu Trường Hưng
» Thông tin tóm tắt về những kết luận mới của Luận án tiến sĩ của NCS Bùi Văn Phú
» Thông tin tóm tắt về những kết luận mới của Luận án tiến sĩ của NCS Trần Đình Nghị
» Thông tin tóm tắt về những kết luận mới của Luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Thúy Huyền
» Lịch bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp Viện của NCS Vũ Dương Hòa
» Lịch bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp Viện của NCS Đào Thị Huyền Trang
» Lịch bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp Viện của NCS Trần Thị Hương Nhung
» Thông tin tóm tắt về những kết luận mới của Luận án tiến sĩ của NCS Đào Thị Huyền Trang
» Thông tin tóm tắt về những kết luận mới của Luận án tiến sĩ của NCS Vũ Dương Hòa
» Thông tin tóm tắt về những kết luận mới của Luận án tiến sĩ của NCS Trần Thị Hương Nhung
» Lịch bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp Viện của NCS Bùi Huy Sơn
» Kết luận mới Luận án Tiến sĩ của NCS Bùi Huy Sơn
» Lịch bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp Viện của NCS Nguyễn Văn Hiển
» Quyết định điều chỉnh chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ tại Viện Nghiên cứu Thương mại
» Quyết định Ban hành Quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ tại Viện Nghiên cứu Thương mại
» Kết luận mới Luận án Tiến sĩ của NCS Nguyễn Văn Hiển
» Lịch bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp Viện của NCS Nguyễn Bá Dũng
» Lịch bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp Viện của NCS Nguyễn Thị Phượng
» Lịch bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp Viện của NCS Trần Quang Huy
» Kết luận mới Luận án Tiến sĩ của NCS Nguyễn Bá Dũng
» Lịch bảo vệ Luận án Tiến sĩ cấp Viện của NCS Nguyễn Thị Chi
» Lịch Bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp Viện của NCS Ngô Thị Hương Giang
» Lịch Bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp Viện của NCS Trịnh Anh Tuấn
» Kết luận mới Luận án Tiến sĩ của NCS Nguyễn Thị Phượng
» Kết luận mới Luận án Tiến sĩ của NCS Nguyễn Thị Chi
» Kết luận mới Luận án Tiến sĩ của NCS Trịnh Anh Tuấn
» Kết luận mới Luận án Tiến sĩ của NCS Trần Quang Huy
» Kết luận mới Luận án Tiến sĩ của NCS Trần Hữu Hùng
» Thông báo tuyển Nghiên cứu sinh năm 2017
Hỗ trợ trực tuyến
Email:
thongtintulieu@gmail.com
Yahoo messeger:

Skype:
 
Copyright © 2005 by Cenit. Cơ quan chủ quản:Viện nghiên cứu thương mại. Email: vnctm@moit.gov.vn - Website: www.viennghiencuuthuongmai.com.vn
Trụ sở chính: 46 Ngô Quyền - Hoàn kiếm - Hà Nội. ĐT: 04.38262721 / Fax: 04.38248279
17 Yết Kiêu - Hai Bà Trưng - Hà Nội. ĐT: 04. 39424134 / Fax: 04. 39422595