Gửi tin qua Email
In bài này
Thành tựu 40 năm - Phương hướng nhiệm vụ

(2010/05/13 15:21:26.652 GMT+7)

TỔNG QUAN 40 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN VIỆN NGHIÊN CỨU THƯƠNG MẠI TRONG 10 NĂM TỚI

Trải qua 40 năm, Viện Nghiên cứu Thương mại đã trưởng thành, vững mạnh, nhưng để đạt được mục tiêu kỳ vọng trở thành một Viện khoa học thương mại lớn tầm cỡ khu vực, quốc tế trong khoảng 10 - 15 năm tới, Viện cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Vì thế, cần có tầm nhìn tổng quan chặng đường 40 năm qua để đánh giá đúng thành tựu to lớn thu được, rút ra những chuẩn giá trị có tính truyền thống của Viện, vững tin vào tương lai, đồng thời xác định đúng phương hướng phát triển của Viện trong thời kỳ tới.
I. TỔNG QUAN 40 NĂM XÂY DỰNG VÀ TRƯỞNG THÀNH
Trong 40 năm qua, các Viện tiền nhiệm và Viện Nghiên cứu thương mại sau này, đã có nhiều nỗ lực tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, từng bước vươn lên đạt được những thành tựu to lớn, hoàn thành tốt các chức năng, nhiệm vụ được giao.
Trong bối cảnh, điều kiện có nhiều sự thay đổi về các lần hợp, tách các Viện tiền nhiệm, về điều chỉnh, bổ sung chức năng, nhiệm vụ và thay đổi về tổ chức bộ máy, nhưng trong mỗi giai đoạn, Viện đều đạt được những bước phát triển mới, tạo dựng được vị thế mới ngày càng cao trong xã hội. Thành tựu và các chuẩn giá trị có tính truyền thống của Viện trong 40 năm qua có thể được tổng quan rút ra như sau:
1. Thực hiện nhiệm vụ chuyên môn Bộ giao là ưu tiên hàng đầu
Thực hiện nhiệm vụ Bộ giao là pháp quy và là lý do của sự tồn tại, phát triển của Viện. Vì thế, các Viện tiền thân và Viện Nghiên cứu Thương mại sau này đều xác định hướng ưu tiên hàng đầu là tập trung thực hiện tốt nhất các nhiệm vụ chuyên môn Bộ giao.
Trong những năm đầu của thời kỳ Đổi mới, các Viện tiền thân đều hình thành nhóm chuyên gia am hiểu sâu sắc thực tiễn của ngành, có tư duy đổi mới sáng tạo để tham gia giúp Bộ giải quyết những vấn đề mang tính chiến lược phức tạp của ngành trong giai đoạn chuyển đổi. Do tạo dựng được uy tín và tin tưởng của lãnh đạo Bộ, nên tất cả các phương án chuyển từ cơ chế cũ sang cơ chế mới - cơ chế thị trường - của các tổng công ty, công ty trực thuộc Bộ Vật tư, đều do Viện Khoa học kỹ thuật và kinh tế vật tư hướng dẫn, tham gia ý kiến trước khi trình lãnh đạo Bộ.
Xây dựng chiến lược phát triển Ngành trong các thời kỳ là nhiệm vụ trọng tâm của Bộ và nhiệm vụ này thường được Bộ giao cho Viện thực hiện. Viện Kinh tế ngoại thương đã giúp Bộ Ngoại thương xây dựng chiến lược ngoại thương đầu tiên (Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu 1986 - 2000). Viện Khoa học kỹ thuật và kinh tế vật tư đã giúp Bộ Vật tư xây dựng Chiến lược phát triển thương mại vật tư - kỹ thuật 1990-2000. Các chuyên gia hàng đầu của Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương mại đã đóng vai trò chủ công trong việc soạn thảo tài liệu nghiên cứu phục vụ xây dựng Nghị Quyết 12/NQ-TW về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động thương nghiệp, phát triển thị trường theo định hướng XHCN (1996).
Xây dựng luật pháp, chính sách về kinh tế đối ngoại, về thương mại là một nhiệm vụ nặng nề của Nhà nước. Việc soạn thảo văn bản Luật pháp đó đòi hỏi phải có những chuyên gia giàu kinh nghiệm về cả lĩnh vực Luật pháp quốc tế và lĩnh vực kinh tế đối ngoại, kinh tế thương mại. Ngay từ năm 1984, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã giao cho Bộ Ngoại thương chỉ đạo Viện Kinh tế ngoại thương chủ trì nghiên cứu chính sách đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, trên cơ sở đó, soạn thảo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Các chuyên gia của Viện Kinh tế ngoại thương đã đóng vai trò nòng cốt trong tổ soạn thảo Luật Đầu tư nước ngoài (1987).
Sau khi hợp nhất, Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Thương mại đã tiếp tục quan điểm chỉ đạo: Thực hiện nhiệm vụ Bộ giao là ưu tiên hàng đầu, gắn bó Viện với công tác của Bộ là một nhiệm vụ rất quan trọng. Lãnh đạo Viện đã nâng cao trách nhiệm bám sát chủ trương, chính sách của Lãnh đạo Bộ, đồng thời khuyến khích, động viên cán bộ thực hiện nhiệm vụ Bộ giao. Với quan điểm và phương châm đó, hoạt động của Viện ngày càng gắn bó với công tác của Bộ, được Bộ tin tưởng giao ngày càng nhiều các nhiệm vụ quan trọng, nhất là các vấn đề về chiến lược, chính sách phát triển của ngành Thương mại. Một số chuyên gia hàng đầu của Viện Nghiên cứu Thương mại đã đóng vai trò nòng cốt trong tổ soạn thảo “Luật Thương mại” đầu tiên của Nhà nước CHXHCN Việt Nam (1997). Từ năm 2000 đến nay, Viện đã được Bộ tin tưởng giao cho chủ trì, phối hợp thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng của Ngành, nhất là các đề án chiến lược về hội nhập quốc tế, về phát triển xuất nhập khẩu, về phát triển thương mại trong nước…
2. Mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo trên đại học là nhiệm vụ trọng tâm
Sau khi nhận nhiệm vụ đào tạo trên đại học theo Quyết định 915/TTg ngày 10/12/1996 của Thủ tướng Chính phủ, Viện đã dành nhiều tâm sức cho thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Là một cơ sở đào tạo Sau đại học của Nhà nước, vấn đề đầu tiên là phải mở rộng quy mô đào tạo, nhưng để nâng cao vị thế và thương hiệu của Viện trong số trên 100 cơ sở đào tạo Sau đại học của cả nước thì việc nâng cao chất lượng đào tạo có ý nghĩa quyết định. Vì thế, cùng với việc từng bước mở rộng quy mô đào tạo, tăng chỉ tiêu tuyển mới NCS từ 5 NCS/năm lên 8-10 NCS/năm, Viện đã tập trung nâng cao chất lượng đào tạo NCS. Trong đó trọng tâm là hướng vào nâng cao chất lượng khoa học các chuyên đề cấp tiến sĩ và các luận án tiến sĩ, đề cao trách nhiệm và trình độ của giáo viên hướng dẫn, nâng cao chất lượng tuyển sinh đầu vào và hỗ trợ NCS chọn đúng đề tài luận án…
Sau 15 năm nhận nhiệm vụ đào tạo trên đại học, Viện đã tuyển mới được 14 khóa đào tạo NCS, với tổng số 68 NCS, trong đó đã có 23 NCS bảo vệ thành công luận án và đã được cấp bằng tiến sĩ. Cơ sở đào tạo Sau đại học Viện Nghiên cứu Thương mại đã có vị thế ngày càng cao trong hệ thống các cơ sở đào tạo Sau đại học trên cả nước, được các cơ quan quản lý cấp trên tin tưởng và có uy tín ngày càng cao trong xã hội. Viện đã khuyến khích cán bộ của Viện tham dự tuyển NCS và làm luận án Tiến sĩ tại Viện, trong đó đã có 2 người bảo vệ thành công luận án được cấp bằng tiến sĩ, đang phát huy tốt vai trò của mình trong công tác khoa học và đào tạo của Viện.
3. Nâng cao năng lực tư vấn, thông tin, hợp tác quốc tế, ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng.
Công tác tư vấn, hợp tác quốc tế, ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn đã được các Viện tiền thân quan tâm thúc đẩy từ những năm 1980, nhưng phải đến năm 1993, sau khi khi Trung tâm Tư vấn và đào tạo kinh tế đối ngoại được thành lập, các lĩnh vực hoạt động này của Viện mới được đẩy mạnh một cách bài bản, chuyên nghiệp. Từ sau năm 2000 đến nay, các lĩnh vực hoạt động này được Viện chú trọng đẩy mạnh theo hướng đa dạng hoá, chuyên nghiệp hoá và hiện đại hoá.
Đối với Viện Khoa học kỹ thuật và kinh tế vật tư, từ sau năm 1984, Viện đã mở ra quan hệ hợp tác với Viện NHIM thuộc Uỷ ban cung ứng vật tư Nhà nước Liên Xô, nhưng chưa đi vào chiều sâu và chưa đạt hiệu quả thiết thực, kết quả chủ yếu là cung cấp thông tin và học tập kinh nghiệm của bạn. Trong bước chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường (1986 - 1992) các doanh nghiệp thuộc Bộ Vật tư rất lúng túng, Viện đã tích cực hỗ trợ một số doanh nghiệp xây dựng phương án khoán kinh doanh vật tư, coi đây là một kênh quan trọng ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn kinh doanh vật tư.
Đối với Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương nghiệp, trong những năm 1985 - 1990, từ kết quả nghiên cứu các đề tài về hoàn thiện tổ chức và đổi mới quản lý thương nghiệp, Viện đã thường xuyên bám sát các công ty, các Sở Thương nghiệp để ký các hợp đồng nghiên cứu theo đơn đặt hàng của họ. Đồng thời, cuối năm 1984 Viện đã tiến hành khảo sát chọn mẫu 3 miền Bắc, Trung, Nam để xây dựng đề án: “Tổ chức lại mạng lưới kinh doanh thương nghiệp” theo hướng tổ chức các công ty theo nhu cầu từng vùng và có tính độc lập tự chủ cao trong kinh doanh, được thực tiễn kiểm nghiệm là đúng hướng.
Đối với Viện Kinh tế đối ngoại, từ năm 1988 đã tiến hành các hoạt động đào tạo bồi dưỡng kiến thức ngoại thương và tư vấn nghiệp vụ kinh doanh ngoại thương cho các doanh nghiệp, cung cấp thông tin và kinh nghiệm quan hệ kinh doanh quốc tế cho các doanh nghiệp (riêng năm 1988 đã mở 3 lớp đào tạo và cấp chứng chỉ của Viện cho trên 3000 học viên). Sau khi Viện ký quyết định thành lập Trung tâm Tư vấn của Viện (năm 1988), do khi đó Bộ chưa chấp thuận ký quyết định thành lập trung tâm này, công tác tư vấn và hợp tác quốc tế của Viện đã được đẩy mạnh, mang lại kết quả rõ rệt. Viện đã đưa nhiều đoàn doanh nghiệp sang Liên Xô, mở mối xuất nhập khẩu trực tiếp hoặc đổi hàng. Viện đã ký được hợp đồng mở mối quan hệ với Trung tâm cung cấp phụ tùng ô tô của Liên Xô, để đưa phụ tùng về Việt Nam cung cấp cho các đơn vị sửa chữa ô tô. Đến năm 1993, sau khi Bộ Thương mại ký quyết định thành lập Trung tâm Tư vấn và đào tạo kinh tế đối ngoại (QĐ 1096/TM - TCCB ngày 01/10/1993), hoạt động tư vấn của Trung tâm được mở rộng, đa dạng hoá hình thức tư vấn. Ngoài việc tư vấn cho các đối tác nước ngoài đến tìm hiểu thị trường, cơ hội đầu tư ở Việt Nam, Trung tâm đã tổ chức tư vấn cho các đối tác trong nước, xây dựng các dự án được Nhà nước duyệt như: dự án Khu thương mại tự do Lao Bảo - Đenxarăm. Dự án Khu kinh tế cửa khẩu Cầu Treo (Hà Tĩnh); dự án Cảng Diêm Điền (Thái Bình), dự án Khu công nghiệp Thanh Hoá…
Các dự án hợp tác quốc tế của Viện chủ yếu do Trung tâm Tư vấn và Đào tạo kinh tế thương mại triển khai thực hiện. Ngoài dự án về đào tạo hợp tác với trường đại học Wollongong (Australia), Trung tâm đã tiến hành khảo sát, tư vấn tiền khả thi nhiều dự án như: dự án nước ngần ROSCOSSMOSS của Mỹ, tư vấn cho Tập đoàn GALLET (Pháp) về sản xuất mũ bảo hiểm lao động… Hợp tác quốc tế của Viện bước đầu hoạt động có hiệu quả, mở thêm quan hệ hợp tác với trường Đại học Victoria (Australia) sản xuất mũ bảo hộ lao động…
Công tác tư vấn cho các địa phương xây dựng các dự án quy hoạch chợ, quy hoạch kết cấu hạ tầng thương mại, quy hoạch mạng lưới xăng dầu, quy hoạch tổng thể phát triển thương mại, các dự án chiến lược phát triển xuất khẩu… được các đơn vị trong Viện Nghiên cứu Thương mại đẩy mạnh từ sau năm 2000, nhất là từ sau năm 2005. Hoạt động xúc tiến dự án và công tác quản lý các dự án quy hoạch được tập trung vào đơn vị đầu mối là Phòng Nghiên cứu và phát triển dự án, tạo điều kiện để tránh trùng chéo và chuyên nghiệp hoá các hoạt động tư vấn xây dựng dự án quy hoạch.
Công tác thông tin - thư viện đã được đẩy mạnh theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại hoá, từ các hoạt động mang tính thủ công, nâng cấp dần bằng các phương tiện điện tử, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động chuyên môn của Viện. Việc xây dựng Thư viện điện tử của Bộ tại Viện và việc Bộ chỉ đạo đặt trung tâm tham vấn về WTO tại Viện sẽ góp phần quan trọng vào tăng cường năng lực cung cấp thông tin của Viện, phục vụ tốt hơn công tác chuyên môn của Viện, cung cấp thông tin cho Bộ, tạo ra gắn bó chặt chẽ hơn giữa Viện với Bộ.
4. Xây dựng tổ chức Đảng cơ sở trong sạch, vững mạnh, phát huy vai trò của tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên để cùng hướng vào hoàn thành tốt các nhiệm vụ chuyên môn, nâng cao thu nhập vừa là mục tiêu vừa là điều kiện của sự trưởng thành
Lịch sử 40 năm Viện Nghiên cứu Thương mại cũng là lịch sử 40 năm xây dựng và trưởng thành của Đảng bộ Viện Nghiên cứu Thương mại, Công đoàn Viện Nghiên cứu Thương mại, Chi đoàn thanh niên Viện Nghiên cứu Thương mại.
Trước khi hợp nhất thành Viện Nghiên cứu Thương mại, các Viện tiền thân đều có một Chi bộ trực thuộc Đảng bộ cơ quan Bộ. Tỷ lệ đảng viên so với tổng số cán bộ nhân viên của các Viện tiền thân thường ở mức trên 30%, tỷ lệ cao hơn nhiều ở các doanh nghiệp. Một số Chi bộ có cả cán bộ Tiền khởi nghĩa sinh hoạt, làm nòng cốt. Các Chi bộ đảng luôn phát huy vai trò là hạt nhân chính trị ở các Viện tiền thân. Công tác xây dựng Đảng ở các Chi bộ tiền thân này đã chuyển giao lại nhiều bài học quý báu cho việc xây dựng tổ chức cơ sở Đảng của Viện Nghiên cứu Thương mại sau này.
Sau khi hợp nhất các Viện tiền thân thành Viện Nghiên cứu Thương mại, số đảng viên sinh hoạt ở Viện Nghiên cứu Thương mại có 35 đảng viên, đã tạo tiền đề cho việc hình thành Đảng bộ Viện Nghiên cứu Thương mại trực thuộc Đảng bộ Bộ Thương mại.
Đảng bộ Viện Nghiên cứu Thương mại đã trải qua 5 nhiệm kỳ đại hội. Công tác xây dựng, phát triển đảng ở Đảng bộ Viện Nghiên cứu Thương mại luôn luôn được chú trọng. Tổng số đảng viên trong đảng bộ đã tăng từ 35 đảng viên năm 1996 lên 43 đảng viên vào tháng 12/2001 và hiện nay là 46 đảng viên. Tỷ lệ số đảng viên so với tổng số cán bộ nhân viên của Viện đã tăng từ 35% lên 39% và 52% trong các mốc thời gian tương ứng. Đây là một tỷ lệ khá cao so ở một đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học và cũng là một thuận lợi trong việc lãnh đạo hoạt động của Viện. Một thuận lợi khác là phần lớn đảng viên trong Đảng bộ là các đồng chí được đào tạo chính qui, có nhận thức chính trị, kinh tế - xã hội cao. Nhiều đồng chí có học vị, học hàm, có khả năng nắm bắt nhanh chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng để quán triệt vào hoạt động nghiên cứu, đào tạo, tư vấn, thông tin, hợp tác quốc tế của Viện. Khi Viện được Bộ giao các nhiệm vụ quan trọng thì các đảng viên được giao việc có thể nhanh chóng nắm bắt tình hình, tổng hợp, khái quát cao, xử lý được các mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị theo đúng chủ trương, quan điểm của Đảng, tạo sự tin tưởng đối với Bộ. Đảng bộ Viện Nghiên cứu Thương mại hiện nay có 10 Chi bộ Đảng trực thuộc. Nhiều năm liên tục, Đảng bộ Viện đã xây dựng và giữ vững danh hiệu Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, được Đảng uỷ cấp trên tặng nhiều bằng khen, giấy khen cho đảng bộ, các chi bộ trực thuộc và cá nhân nhiều đảng viên.
Cùng với công tác Đảng, công tác Công đoàn, Đoàn thanh niên cơ quan Viện luôn luôn được quan tâm xây dựng và phát triển. Khi hợp nhất các Viện tiền thân thành Viện Nghiên cứu Thương mại, công đoàn Viện có 101 công đoàn viên, đến năm 2001 tăng lên 110 và hiện nay còn 104 công đoàn viên, sinh hoạt ở 12 tổ công đoàn. Sinh hoạt phong trào của Công đoàn Viện gắn bó chặt chẽ với sinh hoạt phong trào của Đoàn thanh viên cộng sản Hồ Chí Minh, nhất là hoạt động văn hoá văn nghệ, thể thao,… Qua đó, đã góp phần tạo lập môi trường công tác thuận lợi cho các hoạt động chuyên môn. Nhiều năm qua, Công đoàn Viện Nghiên cứu Thương mại đạt danh hiệu công đoàn cơ sở vững mạnh, được Công đoàn cấp trên tặng nhiều Bằng khen. Trong 5 năm, từ khi có Cuộc vận động lớn của Đảng về “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã có sự phối hợp chặt chẽ giữa Đảng uỷ, Ban chấp hành Công đoàn, Ban chấp hành Chi đoàn thanh niên trong việc tổ chức triển khai cuộc vận động lớn này tại Viện, đạt hiệu quả thiết thực. Mặt khác, Lãnh đạo Viện, Đảng uỷ, Ban chấp hành Công đoàn Viện rất chú trọng trong giữ gìn mối quan hệ thân tình giữa những cán bộ hưu trí với cán bộ đương chức, đây là một truyền thống tốt đẹp của Viện.
Từ lịch sử 40 năm Viện Nghiên cứu Thương mại có thể thấy: Đảng bộ Viện chỉ thực sự vững mạnh khi giữ vững vai trò lãnh đạo. Viện hoàn thành tốt nhất các nhiệm vụ chuyên môn. Tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên cơ quan Viện chỉ thực sự vững mạnh khi mọi hoạt động của các tổ chức này đều hướng vào thúc đẩy và bảo đảm môi trường công tác để Viện hoàn thành tốt nhất các nhiệm vụ chuyên môn, qua đó nâng cao đời sống của mỗi cán bộ, nhân viên trong Viện. Đây cũng là điểm đặc thù về vị trí, vai trò và hoạt động của các tổ chức đảng, đoàn thể trong các đơn vị sự nghiệp nói chung, các đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học nói riêng.

5. Nghiên cứu khoa học là chức năng, nhiệm vụ cơ bản nhất, nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học là nhân tố quyết định sự trưởng thành của Viện.
Với tính chất là đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học trực thuộc Bộ quản lý ngành kinh tế - kỹ thuật về thương mại, các Viện tiền thân cũng như Viện Nghiên cứu Thương mại sau này đều xác định nghiên cứu khoa học là chức năng, nhiệm vụ cơ bản nhất. Vì thế, trong tất cả các giai đoạn xây dựng Viện, kết cả ở các thời điểm diễn ra sự hợp nhất các Viện, sự quan tâm hàng đầu của Lãnh đạo và tập thể cán bộ Viện là không ngừng duy trì, nâng cao năng lực hoạt động nghiên cứu của Viện, không để xảy ra tình trạng gián đoạn.
Để nâng cao năng lực nghiên cứu, các Viện tiền thân và Viện Nghiên cứu Thương mại sau này đều rất coi trọng việc xây dựng chương trình, kế hoạch nghiên cứu khoa học hợp lý. Trong đó, vừa hướng tới giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn của ngành vừa mở rộng phạm vi nghiên cứu giải quyết những vấn đề liên ngành và toàn nền kinh tế. Trên cơ sở đó, các thế hệ cán bộ nghiên cứu của Viện đã từng bước nâng tầm tư duy khoa học, năng lực chủ trì thực hiện đề tài từ cấp Bộ đến cấp Nhà nước, từ các đề tài độc lập, riêng lẻ đến các chương trình nghiên cứu đồng bộ mục tiêu cấp Bộ, cấp Nhà nước. Nếu như trước năm 1990, các Viện tiền thân mới chỉ chủ trì thực hiện các chuyên đề, đề tài cấp Bộ thì trong thời kỳ 1990-2000 đã vươn lên chủ trì thực hiện thành công 02 đề tài cấp Nhà nước. Trong 10 năm 2001-2010, Viện Nghiên cứu Thương mại đã chủ trì thực hiện thành công 10 đề tài cấp Nhà nước (gấp 5 lần tổng số đề tài cấp Nhà nước của thời kỳ 1990-2000). Trong giai đoạn 1988-1994, từ kinh nghiệm chủ trì đề tài/dự án cấp Bộ của giai đoạn trước, các Viện tiền thân đã vươn lên xây dựng và chủ trì thực hiện thành công 01 chương trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ và 03 chương trình nghiên cứu quy hoạch ngành. Hiện nay, sau khi đã đăng ký và được các cấp có thẩm quyền chấp thuận, Viện Nghiên cứu Thương mại đang xây dựng khung chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước giai đoạn 2011-2015: “Phát triển thương mại nhanh và bền vững trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”.
Tổng hợp kết quả hoạt động nghiên cứu khoa học trong 40 năm qua, các Viện tiền thân và Viện Nghiên cứu Thương mại đã chủ trì thực hiện thành công 12 đề tài cấp Nhà nước, 4 chương trình nghiên cứu cấp Bộ và gần 200 đề tài độc lập cấp Bộ, trên 100 dự án quy hoạch và dự án điều tra các cấp, trên 50 nhiệm vụ nhà nước về bảo vệ môi trường, hàng trăm bài báo khoa học và nhiều cuộc hội thảo khoa học liên ngành… Các chương trình, đề tài, dự án và nhiệm vụ nghiên cứu của Viện đã mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội thiết thực, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và phát triển thương mại nước nhà…
Thành tựu đạt được trong hoạt động nghiên cứu khoa học của Viện đã tạo hiệu ứng mạnh đối với các lĩnh vực công tác khác của Viện, nâng cao vị thế, thương hiệu của Viện. Đặc biệt, thành quả thu được từ hoạt động nghiên cứu khoa học của Viện đã tạo “giá đỡ” cho hoạt động đào tạo, nhất là đào tạo tiến sĩ của Viện.
Thông qua tăng cường năng lực nghiên cứu khoa học, trình độ của các cán bộ trực tiếp tham gia đào tạo của Viện đã được nâng lên rõ rệt, là cơ sở quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học. Nhiều nghiên cứu sinh của Viện đã trực tiếp tham gia nghiên cứu các đề tài/dự án, vừa nâng cao được trình độ nghiên cứu vừa thụ hưởng kết quả nghiên cứu của đề tài để xây dựng luận án tiến sĩ. Báo cáo khoa học các đề tài nghiên cứu của Viện tạo nguồn tài liệu tham khảo quan trọng cho xây dựng kho tư liệu của Viện và là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các NCS của Viện, ngoài Viện. Cũng nhờ năng lực nghiên cứu khoa học của Viện không ngừng được nâng lên, đã tạo tiền đề thu hút các đối tác và nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn của Viện. Số lượng đề tài/dự án do Viện chủ trì tăng lên, kéo theo nhu cầu thông tin - tư liệu nghiên cứu tăng theo, tạo hiệu ứng mạnh đối với sự phát triển hoạt động thông tin - tư liệu của Viện. Đây cũng là cơ sở quan trọng cho việc Bộ đã quyết định đầu tư xây dựng Thư viện điện tử của Bộ tại Viện Nghiên cứu Thương mại năm 2009 - 2010. Mặt khác, thành quả hoạt động nghiên cứu khoa học của Viện đã được Bộ ghi nhận, tin tưởng giao cho Viện đảm trách nhiều đề án, nhiệm vụ quan trọng của Bộ, của ngành, của Đảng và Nhà nước.
Với sự phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học đã thúc đẩy các lĩnh vực hoạt động khác của Viện, tăng nguồn thu, góp phần nâng cao thu nhập và đời sống của cán bộ, nhân viên, tạo sự yên tâm gắn bó với Viện.
6. Viện trưởng có cả “Tâm” và “Tầm”, xây dựng được đội ngũ cán bộ nghiên cứu cốt cán - gốc rễ của sự trưởng thành.
Người lãnh đạo và nguồn nhân lực là nhân tố trung tâm, quyết định sự phát triển của một tổ chức, nhất là đối với tổ chức khoa học công nghệ như Viện Nghiên cứu Thương mại.
Viện trưởng có vai trò hàng đầu trong việc xác định mục tiêu, định hướng phát triển của Viện tầm trung và dài hạn, trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành mọi mặt hoạt động thường xuyên của Viện, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển hiện tại và tương lai của Viện.
Đồng chí Lê Hữu Duyên (nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế kỹ thuật thương nghiệp giai đoạn 1976 - 1981) nhận đinh: “Phải nói rằng, Bộ Nội thương rất coi trọng công tác của Viện nên đã cử hai đồng chí (Đồng chí Trần Tấn và Đồng chí Nguyễn Đức Tiến) có kiến thức rộng, có kinh nghiệm phong phú về thực tiễn của ngành, có uy tín cao và đang giữ trọng trách của Bộ về làm Viện trưởng. “Công việc đầu tiên là tập trung xây dựng Viện ra Viện về cơ cấu, trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học, cả về phong cách và phương pháp nghiên cứu khoa học”. “Dựa vào trí tuệ tập thể của Viện, đồng thời Viện trưởng đã thực sự trở thành một người giúp việc không thể thiếu trong hoạch định chủ trương, chính sách thương nghiệp của Bộ”.
Luật sư, PGS. Lưu Văn Đạt (nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế ngoại thương giai đoạn 1982 - 1988) cũng nhận định: “Bước vào giai đoạn xây dựng, Viện có nhiều thuận lợi, đặc biệt là có sẵn đội ngũ một số cán bộ cốt cán thừa hưởng từ Vụ tình hình”… “Điều kiện để xây dựng được một Viện nghiên cứu đầu ngành ngang tầm các Viện nghiên cứu quốc gia trong một thời gian không quá dài là phải: 1- Có một Viện trưởng; 2- Có đội ngũ cán bộ cốt cán; 3- Có cơ sở vật chất. Do đó Viện phải tập trung giải quyết bốn vấn đề lớn: 1. Mục tiêu, định hướng phát triển, nội dung hoạt động của Viện; 2. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu, thông tin; 3. Cơ sở vật chất, trước hết là thư viện; 4. Phong thái, cung cách hoạt động của Viện Nghiên cứu”.
Đồng chí Phùng Văn Kim (nguyên Viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật và kinh tế vật tư 1982 - 1992) nhận định: “Định hướng chung ban đầu có ý nghĩa quyết định, xuyên suốt quá trình: xây dựng tổ chức, chọn đề tài, tập hợp lực lượng, tổ chức thực hiện thành công chương trình nghiên cứu khoa học và các việc đột xuất khác…” cần “thực hiện ý tưởng minh bạch, công bằng, trong sạch trong khoa học; điểm cốt lõi là xây dựng Viện với một tập thể có TÂM - TẦM cao”.
PGS.TS. Lê Nhật Thức (nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế đối ngoại giai đoạn 1992 - 1995 và Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại giai đoạn 1995 - 1998) nhận định rằng: “Nhờ chú trọng nâng cao năng lực nội sinh, Viện quan tâm đến việc nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn của đội ngũ hiện có, kể cả cán bộ, nhân viên ở văn phòng, mạnh dạn cử nhiều người đi đào tạo bằng nhiều hình thức cả ở trong và ngoài nước, đội ngũ nghiên cứu viên chính có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ cuả Viện ngày một tăng thêm. Một trong những công việc đầu tiên rất quan trọng là tập thể lãnh đạo Viện, Đảng uỷ, Ban chấp hành công đoàn… đã bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ lãnh đạo các đơn vị trực thuộc đúng người, đúng việc”.
PGS.TS. Nguyễn Văn Nam (nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại giai đoạn 1998 - 2002) đã có sự lựa chọn, cách thức tiếp cận xây dựng Viện với quan điểm: “trước hết là chấn chỉnh công tác quản lý, tập trung vào một đầu mối lãnh đạo và quản lý các hoạt động nghiên cứu và các chương trình hợp tác quốc tế. Nâng cao vai trò chủ động của các phòng quản lý chức năng và phân bổ hợp lý các nhiệm vụ nghiên cứu cho các phòng, ban, bảo đảm phát huy vai trò nòng cốt của các chuyên viên giàu kinh nghiệm đồng thời thu hút sự tham gia của các nghiên cứu viên trẻ. Coi trọng và ưu tiên phân bổ lực lượng thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của Bộ giao đồng thời phân bổ công bằng việc thực hiện các hợp đồng nghiên cứu có nguồn thu… Để nâng cao năng lực nghiên cứu phải coi trọng việc xây dựng chương trình, kế hoạch nghiên cứu…, tập hợp được lực lượng cán bộ nghiên cứu, kết hợp già, trẻ, người có năng lực khá với cán bộ mới vào nghề. Viện Nghiên cứu Thương mại là Viện đầu ngành của Bộ nên gắn bó Viện với hoạt động công tác của Bộ là một nhiệm vụ rất quan trọng. Lãnh đạo Viện có trách nhiệm bám sát chủ trương, chính sách của lãnh đạo Bộ. Thực hiện nhiệm vụ chuyên môn Bộ giao là ưu tiên hàng đầu của Viện, Viện phải có cơ chế chính sách, khuyến khích cán bộ thực hiện nhiệm vụ Bộ giao, có sự đánh giá động viên kịp thời để thu hút cán bộ giỏi thực hiện nhiệm vụ này”.
PGS.TS. Nguyễn Văn Lịch (nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại giai đoạn 2002 - 2009) khi đề cập đến những thành công của Viện trong đào tạo Tiến sĩ đã nhận định: “Viện đã thực sự trở thành một cơ sở đào tạo tiến sĩ đáng tin cậy, đã tạo ra một mối liên hệ chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo ngay trong đội ngũ nghiên cứu khoa học của Viện. Do có chủ trương thu hút cán bộ khoa học có trình độ cao về công tác tại Viện được chú ý nên đội ngũ hướng dẫn NCS tương đối vững chắc”. PGS.TS. Nguyễn Văn Lịch cũng cho rằng: muốn phấn đấu đưa Viện Nghiên cứu Thương mại phát triển ngang tầm các Viện nghiên cứu khoa học của khu vực thì mọi người hãy vì sự phát triển của Viện, đồng tâm hiệp lực, trau dồi kiến thức, tiếp tục học tập chuyên môn, ngoại ngữ…
Tiếp nối cách tiếp cận, quan điểm và phát huy truyền thống của các thế hệ Lãnh đạo Viện tiền nhiệm, Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Thương mại hiện nay đang rất chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ Viện có trình độ chuyên môn vững, tâm huyết với sự phát triển của Viện, đồng tâm hợp lực và quyết tâm cao nhằm đưa Viện phát triển vững mạnh. Trong thời kỳ tới lãnh đạo Viện đã đề ra và đang thực hiện chính sách khuyến khích vật chất cũng như trong quy hoạch, đề bạt cán bộ đối với các cán bộ nỗ lực hoàn thành chương trình đào tạo được cấp bằng thạc sĩ, tiến sĩ. Trọng dụng các cán bộ vừa có trình độ chuyên môn vừa giỏi ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh.
Nhờ có chủ trương, quan điểm và chính sách đúng đắn của các thế hệ Lãnh đạo Viện, đội ngũ cán bộ của Viện đã được củng cố, tăng cường qua từng giai đoạn. Ở các Viện tiền thân, mỗi Viện chỉ có 30 - 40 cán bộ trong đó số cán bộ có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ còn rất ít. Khi hợp nhất Viện Kinh tế - Kỹ thuật thương mại và Viện Kinh tế đối ngoại thành Viện Nghiên cứu Thương mại, cả Viện đã có tới gần 100 cán bộ nghiên cứu có trình độ đại học trở lên, trong đó có 13 cán bộ có học vị tiến sĩ và học hàm phó giáo sư. Đây là nguồn lực quan trọng nhất đối với sự phát triển của Viện ở giai đoạn tiếp sau, là điều kiện cơ bản cho việc Nhà nước giao nhiệm vụ đào tạo trên đại học cho Viện Nghiên cứu Thương mại, cũng như trong việc giao nhiệm vụ cho các đề tài/dự án cấp Nhà nước, cấp Bộ…
II. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN VIỆN NGHIÊN CỨU THƯƠNG MẠI TRONG 10 NĂM TỚI
Đất nước đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế sâu rộng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Trong tiến trình đó, ngành Công Thương có vị trí, vai trò nền tảng, nòng cốt và đi đầu.
Hiện nay, toàn Ngành đang tích cực phấn đấu triển khai thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đã được xác định tại Nghị quyết Đại hội XI của Đảng. Viện Nghiên cứu Thương mại là đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học trực thuộc Bộ Công Thương, vì thế, phương hướng phát triển Viện trong 10 năm tới phải phù hợp với định hướng phát triển của ngành, phải hướng vào việc giúp Bộ trong công tác quản lý Nhà nước về thương mại, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế thương mại đã được Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đề ra. Để đáp ứng yêu cầu chung đó, phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu phát triển Viện trong 10 năm tới là:
1. Phương hướng hoạt động nghiên cứu khoa học của Viện từ nay tới năm 2020
Tập trung vào việc thực hiện các chương trình, đề tài, dự án cấp Nhà nước và cấp Bộ, ngành nhằm cung cấp các luận cứ khoa học, các giải pháp đồng bộ giúp thực hiện thắng lợi các mục tiêu định hướng phát triển thương mại nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội đất nước nói chung được xác định trong các Văn kiện Đại hội XI của Đảng, trong các chiến lược phát triển thương mại. Phương hướng nghiên cứu triển khai cụ thể:
a. Lĩnh vực thương mại trong nước:
- Nghiên cứu, xây dựng luận cứ khoa học cho việc tái cấu trúc mô hình tăng trưởng chuyển dịch cơ cấu, nâng cao chất lượng và hiệu quả tăng trưởng thương mại trong nước.
- Nghiên cứu, xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện các chính sách và cơ chế điều tiết cung cầu một số hàng hoá và dịch vụ thương mại nhằm bình ổn thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội.
- Nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách và giải pháp đột phá để phát triển kết cấu hạ tầng thương mại, phát triển dịch vụ logistics và phát triển nguồn nhân lực ngành thương mại.
- Nghiên cứu, đề xuất các chính sách và giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý Nhà nước đối với việc bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, bảo vệ người tiêu dùng trong phát triển thương mại trên thị trường nội địa.
- Nghiên cứu, đề xuất chính sách, giải pháp phát triển các loại hình thương mại văn minh, hiện đại nhằm thúc đẩy và nâng cao hiệu quả của hoạt động thương mại trong bối cảnh phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
- Nghiên cứu, xây dựng các dự án quy hoạch phát triển thương mại, phát triển kết cấu hạ tầng thương mại, các loại hình tổ chức kinh doanh thương mại hiện đại.
- Xây dựng mô hình thử nghiệm và hoàn thiện mô hình liên kết giữa sản xuất và thương mại, phát triển một số loại hình phân phối bán lẻ hiện đại ở Việt Nam để chủ động tham gia vào mạng lưới phân phối toàn cầu.
b. Lĩnh vực xuất nhập khẩu:
- Nghiên cứu, xây dựng luận cứ khoa học cho việc tái cấu trúc mô hình tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu, nâng cao chất lượng và hiệu quả của tăng trưởng xuất nhập khẩu hàng hoá.
- Nghiên cứu luận cứ khoa học cho hoàn thiện chính sách phát triển xuất nhập khẩu phục vụ phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam.
- Nghiên cứu, đề xuất bổ sung và hoàn thiện cơ chế, chính sách và giải pháp nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả của quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu nhằm phát triển xuất khẩu, giảm nhập siêu, bảo vệ thị trường và sản xuất trong nước, bảo đảm an ninh kinh tế, an sinh xã hội, chống bán phá giá hàng nước ngoài nhập khẩu vào thị trường trong nước, chống gian lận thương mại và buôn lậu qua biên giới, chống chuyển giá và chống gian lận thương mại…
- Nghiên cứu, xây dựng chương trình phát triển và hoàn thiện cơ chế, chính sách và các giải pháp đồng bộ để phát triển xuất khẩu các sản phẩm có tiềm năng, lợi thế và có sức cạnh tranh theo hướng bền vững, hiệu quả.
- Nghiên cứu, đề xuất các phương án xây dựng hệ thống cảnh báo sớm để hạn chế rủi ro trong hoạt động thương mại, nhất là cảnh báo sự thay đổi chính sách, sự xuất hiện các rào cản thương mại mới và sự thay đổi lợi thế cạnh tranh của các đối thủ trong phát triển xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam.
- Nghiên cứu, đề xuất chính sách, giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng đối phó có hiệu quả với các biến động bất định của tình hình thị trường - thương mại thế giới đối với phát triển xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam.
c. Hội nhập quốc tế:
- Nghiên cứu luận cứ khoa học cho việc hoạch định chiến lược và triển khai thực hiện chiến lược hội nhập kinh tế - thương mại của Việt Nam, nhất là trong tham gia các khu vực thương mại tự do (FTA) đa phương và song phương.
- Nghiên cứu đánh giá tác động của cam kết gia nhập WTO, các FTA đã và sẽ ký kết đến cán cân thương mại của Việt Nam; đề xuất giải pháp đồng bộ nhằm hạn chế và khắc phục những tác động bất lợi của các cam kết WTO và FTA đã tham gia đối với nền kinh tế nước ta; dự báo và xây dựng phương án, giải pháp để hạn chế rủi ro, đối phó có hiệu quả và vượt qua thách thức khi Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
- Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp đẩy mạnh việc xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn và hợp chuẩn quốc tế, thừa nhận lẫn nhau; đẩy mạnh việc xây dựng các TBT, SPS, các biện pháp tự vệ trong thương mại phù hợp với các cam kết quốc tế.
d. Các vấn đề liên ngành:
- Nghiên cứu xác định luận cứ khoa học cho việc tái cấu trúc cơ cấu đầu tư, hoàn thiện chính sách đầu tư phát triển sản xuất hàng hoá xuất khẩu, sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu và công nghiệp hỗ trợ nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập khẩu và nhập siêu; khuyến khích đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài để kết nối với mạng lưới sản xuất và phân phối toàn cầu.
- Nghiên cứu xác định luận cứ khoa học cho việc giải quyết các vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ trong phát triển thương mại, tăng cường năng lực bảo hộ của Nhà nước, phát triển và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của các doanh nghiệp; xây dựng và phát triển thương hiệu hàng hoá Việt Nam.
- Nghiên cứu xác định luận cứ khoa học cho việc xây dựng chiến lược, hoạch định chính sách và đề xuất các giải pháp đồng bộ để nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh một số mặt hàng, ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
- Nghiên cứu xác định luận cứ khoa học cho việc hoạch định chiến lược, chính sách và đề xuất các giải pháp đồng bộ nhằm phát triển nhanh dịch vụ logistics, các dịch vụ hỗ trợ xuất nhập khẩu (nhất là các dịch vụ tài chính - ngân hàng, dịch vụ pháp lý, dịch vụ du lịch, dịch vụ bưu chính viễn thông…).
- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đồng bộ nhằm khuyến khích người Việt tiêu dùng hàng Việt Nam, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường và chủ động đối phó với biến đổi khí hậu… trong phát triển thương mại.
- Xây dựng mô hình thử nghiệm và triển khai một số mô hình phát triển thương mại nhằm phục vụ phát triển bền vững (tăng trưởng cao, thân thiện với môi trường và góp phần bảo đảm an sinh xã hội).
2. Phương hướng phát triển hoạt động đào tạo
Nỗ lực phấn đấu mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng lượng đào tạo trên đại học của Viện nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực thương mại chất lượng cao phục vụ sự phát triển thương mại nhanh, bền vững và phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Phấn đấu đến năm 2020 Viện sẽ trở thành một cơ sở đào tạo trên đại học có tính cạnh tranh cao và tham gia hợp tác bình đẳng với các đối tác trong nước và quốc tế về lĩnh vực đào tạo chuyên sâu. Cụ thể:
- Thực hiện tốt Quy chế đào tạo tiến sĩ của Viện Nghiên cứu Thương mại (2009); phấn đấu nâng cao kết quả tuyển sinh hàng năm lên mức bình quân 10 NCS/năm.
- Không ngừng phát triển quan hệ hợp tác chặt chẽ với các đơn vị trong ngành, các trường, viện nghiên cứu trong và ngoài nước nhằm tăng cường và phát triển chất lượng đào tạo nghiên cứu sinh, liên kết đào tạo thạc sỹ.
- Chú trọng công tác xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên; tăng cường xây dựng và nâng cao cơ sở vật chất phục vụ cho công tác đào tạo; hoàn thiện chương trình, nội dung đào tạo, cập nhật các kiến thức mới nhất để đưa vào chương trình giảng dạy; hướng dẫn nghiên cứu sinh, đặc biệt coi trọng chất lượng các chuyên đề tiến sỹ.
- Từng bước nâng tầm cơ sở đào tạo trên đại học Viện Nghiên cứu Thương mại theo chuẩn quốc tế.
- Chuẩn bị các điều kiện cần thiết xin mở thêm mã ngành đào tạo Thạc sĩ và đào tạo Tiến sĩ quản lý kinh tế.
3. Tiếp tục đổi mới tổ chức, quản lý hoạt động của Viện theo tinh thần Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ
Phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của Viện các đơn vị trong Viện, các cá nhân, đồng thời bảo đảm thực hiện tốt các nhiệm vụ chuyên môn Bộ giao, nhất là các nhiệm vụ đột xuất không có kinh phí thực hiện giao kèm theo. Cân đối nguồn lực và các nhiệm vụ được giao, bảo đảm hài hoà giữa khối các đơn vị nghiên cứu và các đơn vị quản lý, phục vụ nghiên cứu về công việc và thu nhập. Tạo lập môi trường làm việc cơ quan Viện với tính nhân văn cao, bảo đảm dân chủ, công bằng, minh bạch; động viên, khích lệ kịp thời các cán bộ có thành tích xuất sắc trong công tác, nhất là trong thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn Bộ giao.
Bảo đảm và tăng cường khối đoàn kết thống nhất giữa các đơn vị thuộc Viện, sự lãnh đạo của Đảng uỷ Viện đối với các lĩnh vực công tác của Viện. Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung - dân chủ trong tổ chức quản lý hoạt động của Viện. Phát huy vai trò của các tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên trong xây dựng và phát triển Viện vững mạnh, hướng vào thực hiện, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ chuyên môn.
4. Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học của Viện với cơ cấu hợp lý, chú trọng đội ngũ cán bộ nghiên cứu cốt cán.
Viện phát triển đội ngũ cán bộ khoa học với số lượng và cơ cấu hợp lý, theo hướng chuyên nghiệp hoá, có đủ “tâm” và “tầm” giải quyết các vấn đề chiến lược, chính sách phát triển thương mại trong thời kỳ tới. Phát triển nhanh đội ngũ chuyên gia đủ năng lực thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn Bộ giao. Tiếp tục tăng cường đội ngũ cán bộ của Viện có đủ điều kiện và năng lực tham gia đào tạo trên đại học, phấn đấu xây dựng Viện thành cơ sở đào tạo nòng cốt trong phát triển nguồn nhân lực trình độ cao chuyên ngành thương mại cho đất nước và tham gia hợp tác quốc tế về đào tạo. Đồng thời phát triển đội ngũ chuyên gia đóng vai trò nòng cốt cho việc nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ tư vấn để Viện trở thành một địa chỉ tư vấn tin cậy, cung cấp cho các đối tác trong nước và quốc tế các dịch vụ tư vấn về nghiên cứu thị trường, marketing, về xây dựng chiến lược kinh doanh, các cơ hội kinh doanh, giới thiệu các đối tác thương mại và đầu tư, cung cấp thông tin thương mại có chất lượng…
Với 40 năm xây dựng và phát triển, Viện Nghiên cứu Thương mại đã được Đảng và Nhà nước, Chính phủ và các Bộ/Ngành tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương, giải thưởng và Bằng khen các loại, trong đó :
- 02 Huân chương Lao động hạng Nhì cho tập thể và cá nhân.
- 03 Huân chương Lao động hạng Ba cho tập thể và cá nhân.
- 01 Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ tặng cho Tập thể tác giả Chương trình Atlas Quốc gia.
- 07 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho 02 tập thể và 05 cá nhân.
- 01 Cờ thi đua của Chính phủ.
- Trên 100 Bằng khen của các Bộ/Ngành tặng cho tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc nhất trong các phong trào thi đua.
Phát huy các giá trị truyền thống 40 năm qua, tận dụng các vận hội phát triển mới, nỗ lực vượt qua các thách thức, tập thể cán bộ viên chức Viện Nghiên cứu thương mại hôm nay quyết tâm đưa Viện phát triển vững mạnh, để đến năm 2020 Viện Nghiên cứu thương mại trở thành một thương hiệu mạnh ở Việt Nam và trên trường quốc tế về lĩnh vực nghiên cứu khoa học, đào tạo trên đại học, tư vấn và thông tin thương mại.

 

 

 

 

 

 


 

 

 

 

Thông báo của Viện
» Lịch bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp Viện của NCS Nguyễn Thúy Hiền
» Lịch bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp Viện của NCS Trần Đinh Nghị
» Thông tin tóm tắt về những kết luận mới của Luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Hữu Trường Hưng
» Thông tin tóm tắt về những kết luận mới của Luận án tiến sĩ của NCS Bùi Văn Phú
» Thông tin tóm tắt về những kết luận mới của Luận án tiến sĩ của NCS Trần Đình Nghị
» Thông tin tóm tắt về những kết luận mới của Luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Thúy Huyền
» Lịch bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp Viện của NCS Vũ Dương Hòa
» Lịch bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp Viện của NCS Đào Thị Huyền Trang
» Lịch bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp Viện của NCS Trần Thị Hương Nhung
» Thông tin tóm tắt về những kết luận mới của Luận án tiến sĩ của NCS Đào Thị Huyền Trang
» Thông tin tóm tắt về những kết luận mới của Luận án tiến sĩ của NCS Vũ Dương Hòa
» Thông tin tóm tắt về những kết luận mới của Luận án tiến sĩ của NCS Trần Thị Hương Nhung
» Lịch bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp Viện của NCS Bùi Huy Sơn
» Kết luận mới Luận án Tiến sĩ của NCS Bùi Huy Sơn
» Lịch bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp Viện của NCS Nguyễn Văn Hiển
» Quyết định điều chỉnh chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ tại Viện Nghiên cứu Thương mại
» Quyết định Ban hành Quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ tại Viện Nghiên cứu Thương mại
» Kết luận mới Luận án Tiến sĩ của NCS Nguyễn Văn Hiển
» Lịch bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp Viện của NCS Nguyễn Bá Dũng
» Lịch bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp Viện của NCS Nguyễn Thị Phượng
» Lịch bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp Viện của NCS Trần Quang Huy
» Kết luận mới Luận án Tiến sĩ của NCS Nguyễn Bá Dũng
» Lịch bảo vệ Luận án Tiến sĩ cấp Viện của NCS Nguyễn Thị Chi
» Lịch Bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp Viện của NCS Ngô Thị Hương Giang
» Lịch Bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp Viện của NCS Trịnh Anh Tuấn
» Kết luận mới Luận án Tiến sĩ của NCS Nguyễn Thị Phượng
» Kết luận mới Luận án Tiến sĩ của NCS Nguyễn Thị Chi
» Kết luận mới Luận án Tiến sĩ của NCS Trịnh Anh Tuấn
» Kết luận mới Luận án Tiến sĩ của NCS Trần Quang Huy
» Kết luận mới Luận án Tiến sĩ của NCS Trần Hữu Hùng
» Thông báo tuyển Nghiên cứu sinh năm 2017
Hỗ trợ trực tuyến
Email:
thongtintulieu@gmail.com
Yahoo messeger:

Skype:
 
Copyright © 2005 by Cenit. Cơ quan chủ quản:Viện nghiên cứu thương mại. Email: vnctm@moit.gov.vn - Website: www.viennghiencuuthuongmai.com.vn
Trụ sở chính: 46 Ngô Quyền - Hoàn kiếm - Hà Nội. ĐT: 04.38262721 / Fax: 04.38248279
17 Yết Kiêu - Hai Bà Trưng - Hà Nội. ĐT: 04. 39424134 / Fax: 04. 39422595